24 tháng 4, 2017

Thuật ngữ tài chính

Trong tiếng Anh khá rắc rối với các đoạn viết sau mà bạn đọc cần phân biệt. Thí dụ: "stock upgrades" (nâng cấp cổ phiếu), tức là bơm thêm tiền vào cổ phiếu cần gia tăng đầu tư thêm. Nó khác với sự mua mới vào cổ phiếu.
Trong khi cụm từ: “bán dưới giá trị thật của nó”, tức là “selling below its true value”, nó khác với cụm từ "mua trên sự sợ hãi, bán vào sự tham lam" Hay buy on fear, sell on greed. Tức là ta chú ý cụm từ thêm bớt “ing”. Tiếng Mỹ rất rắc rối nếu viết rõ ràng, dù nó cũng tương đối đúng, nhưng thực tế nó vẫn sai.
Thí dụ trong bản phân tích tham gia đánh giá chéo về ngân hàng đầu tư Goldman Sachs (NYSE: GS) mà tôi tham gia đánh giá cùng nhóm phân tích: www.nasdaq.com/aspx/call-transcript.aspx…
Phần tô màu xanh thuyết minh rất chuyên môn, nó rất rắc rối về Anh ngữ: secfilings.nasdaq.com/edgar_conv_html%2f2016%2f02%2f22%2f00… rất rắc rối này.
Đó là thuật ngữ tiếng Anh, tuy nhiên không nhất thiết bạn đọc phải viết chính xác về nó, vì bạn đọc viết ra từng đó thì người Mỹ họ sẽ biết và hiểu như thế nào. Nhưng hãy thận trọng thêm bớt "ing" trong đoạn viết ngắn dài,...