ĐI VAY NỢ TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ DỄ HAY KHÓ
Trước đây tôi đã phân tích nhiều lần về việc Standard & Poor’s, Moody's, Fitch Ratings đánh giá tín nhiệm các nước đi vay như thế nào thì ai cũng đã rõ. Có lẽ thời gian tới VN cần phát hành giấy nợ để đi vay theo lãi thị trường là điều không tránh khỏi. Vì ngay cả UAE mới đây cũng phát hành giấy nợ 3,2 tỷ $ để vay xây sân bay và hạ tầng khác cho nhanh gọn,…. VN thì còn đi vay nhiều hơn nên sẽ gặp nhiều trường hợp khôi hài nếu không hiểu rõ thị trường vay nợ này.
Tôi còn nhớ vào ngày 7/11/2014, Bộ Tài chính VN đã phát hành thành công trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm ra thị trường vốn quốc tế với tổng khối lượng 1 tỷ USD, sau đợt phát hành giấy nợ đó thì VN dự tính tiếp tục phát hành thêm 3 tỷ $, khi đó tôi mỉa mai là VN sẽ khó vay đưuọc tiền và nó trôi vào quên lãng. Nhiều lần trước đó thì Bộ Tài chính và Quốc hội VN hồ hởi lạc quan tếu khi mấy ông bà nghị gật bấm nút nâng mức nợ công để chuẩn bị ồ ạt phát hành trái phiếu trên thị trường quốc tế để vay nhiều tỷ $, nhưng thất bại. Kể cả cái ngân hàng quốc doanh Vietcombank cũng thất bại khi dự tính vay 1 tỷ $. Nhiều nhà phân tích chuyên gia kinh tế và tài chính VN thì phân tích rất buồn cười là thậm chí họ còn vạch ra khuyến nghị là chính phủ VN cần lập ra “công ty đánh giá tín dụng” để đánh giá hồ sơ doanh nghiệp hay chính phủ đi vay cho minh bạch và giảm chi phí cho quốc tế thẩm lượng rủi ro. Nhiều người khác thì chỉ ra rằng VN đang là quốc gia cực kỳ phát triển nên đi vay sẽ có khả năng trả nợ cao, vì VN đang có hàng trăm dự án bất động sản hàng ngàn tòa nhà cao tầng trọc trời như New York, Thượng Hải,..có giá trị cả hàng trăm tỷ $ để gợi ý ưu việt là VN hoàn toàn có tài sản để trả nợ,…
Tôi thì giật mình và buồn cười, vì khi đó cũng có địa chỉ vài ông chuyên gia VN gửi hồ sơ cho cái ngân hàng Morgan Stanley (NYSE: MS) để quảng cáo thị trường vay nợ của VN.
Trước hết tôi cần khẳng định rằng, trên thị trường giấy nợ quốc tế thì giới đầu tư và chủ nợ họ không cần quan tâm là phải vào tận quốc gia đó để đi khảo sát rằng quốc giá đó đang có mấy trăm dự án xây cất bất động sản hạng sang, hay mấy ngàn tòa cao ốc trọc trời cao 442 m bằng tòa nhà Willis Tower ở Chicago, hay tòa nhà Princess Tower ở Dubai (UAE) rộng bằng mấy sân bong đá để gợi ý làm vật thế chấp tài sản để dễ đi vay. Thị trường tài chính quốc tế họ không quan tâm mấy thứ đó. Họ chỉ quan tâm sự thẩm lượng tín nhiệm của các ngân hàng hay các tổ chức đánh giá tín dụng mà thôi.
Đối với VN, với mức đánh giá tín nhiệm hiên nay có lẽ VN sẽ khó bao giờ vay được tiền. Đó lả đánh giá tín dụng là Standard & Poor’s, Moody's, Fitch Ratings hạ thấp trái phiếu của chính phủ của VN ở mức khá tiêu cực, mà cụ thể là Standard & Poor’s hạ mức BB- (từ ổn định), Moody's đánh giá B1 (ổn định), trong khi Fitch Ratings chấm điểm BB- (ổn định). Đây là mức VN đi vay sẽ bị qua nhiều cửa ải mà chủ nợ yêu cầu các nhà tư vấn phân tích rất kỹ toàn bộ hệ thống nền kinh tế của VN.
Hãy nhớ rằng, vay mượn trên thị trường tài chính quốc tế bằng hình thức trái phiếu. Đây là lĩnh vực vay mượn rất chuyên môn. Trái phiếu VN đến từ tổ chức tư nhân trên thị trường quốc tế là "cực kỳ rủi ro" gần như là mức "rác".
Trên thế giới hiện nay những ngân hàng tham gia tư vấn môi giới hay đứng ra dàn xếp bảo lãnh các tờ giấy nợ các quốc gia và các doanh nghiệp các nước trên thế giới, kể cả cho vay, nó bao gồm: Citigroup (NYSE: C), Deutsche Bank yết giá tại Frankfurt của chỉ số chứng khoán DAX (FWB: DBK), tại New York mã chứng khoán của Deutsche Bank (NYSE: DB), Barclays Plc (FTSE 100 mã chứng khoán BARC: LN, tại New York NYSE: BCS), PMorgan Chase (NYSE, Dow Jones: JPM), UBS mã chứng khoán tại New York (NYSE: UBS), Bank of America (NYSE: BAC), HSBC, BNP Paribas SA (EPA: BNP), Goldman Sachs (Dow Jones, NYSE: GS), Royal Bank of Scotland, Lloyds Bank (FTSE 100, mã chứng khoán RBS: LN), Société Générale (EPA: GLE), Standard Chartered (LON: STAN), Credit Suisse (VTX: CSGN), và ngân hàng đầu tư Morgan Stanley (NYSE: MS).
Tuy nhiên, về thẩm lượng trái phiếu và quyết định "lãi suất trái phiếu", hay "yield", để phân biệt với lãi suất ngân hàng là "interest rate" thì các ngân hàng này không tham gia thẩm lượng đánh giá rủi ro vay nợ, mà họ nhờ đến các công ty thẩm định trái phiếu, hay lượng cấp tín dụng thì trên thế giới có 4 công ty đủ uy tín, và chiếm đến 97% các tờ giấy nợ thế giới qua tay họ thẩm lượng rủi ro, nó bao gồm: Standard & Poor’s, Moody's, Fitch Ratings và AM Best.
Như tôi hay nói, đó là khi một quốc gia phát hành trái phiếu đi vay, và phải học thuộc định nghĩa "trái phiếu là một khoản vay". Đó là như tôi hay nói trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm (tức là trái phiếu chủ quyền tối thượng của quốc gia). Nôm na là trái phiếu này khi đi vay thì phải có trách nhiệm hoàn trái, tức trả nợ, dù phải bán nước cũng phải trả, có nghĩa là trả qua thuế hoặc lạm phát, như in tiền ra trả,... nên đừng nghĩ là sẽ được giảm nợ, hay giảm lãi vì khó khăn kinh tế,...và phải trả tiền lời theo lãi của thị trường, với lợi suất cao thấp sẽ được quyết định thông qua sự thẩm định của các tổ chức đánh giá tín dụng, lẽ tất nhiên VN sẽ nhờ một số ngân hàng quốc tế có uy tín làm trung gian và mời các công ty tư vấn có kinh nghiệm làm cố vấn cho việc phát hành giấy nợ, tức trái phiếu để vay tiền.
Vì vậy, câu hỏi đầu tiên trước khi nhà đầu tư mua một trái phiếu của một doanh nghiệp hay của chính phủ của một quốc gia cần vay tiền mà nhà đầu tư cho vay thì họ sẽ suy tính là khi họ cho vay, họ có đảm bảo là nhận lại được tiền lãi và vốn khi đáo hạn hay không? Khi ấy, nhà đầu tư họ sẽ cần tới các công ty xếp hạng tín dụng để đánh giá trái phiếu doanh nghiệp hay quốc gia đó đi vay. Chẳng hạn trong tháng Giêng năm 2010, khi VN phát hành trái phiếu lần thứ hai thì nhờ 3 ngân hàng quốc tế như Citigroup, Barclays, và Deutsche Bank đứng ra làm trung gian và phải mời công ty tư vấn Allen & Overy của Mỹ làm cố vấn cho việc phát hành các tờ giấy nợ, tất nhiên sau đó quyết định "lãi suất" thì do các công ty thẩm định tài chính thẩm định và mọi phí tổn vay mượn thì VN phải trả tiền hoa hồng cho họ tư vấn nghiệp vụ này.
Nói chung, trên thị trường tài chính này có các công ty xếp hạng tín nhiệm trái phiếu như Standard & Poor’s, Moody's, Fitch Ratings và AM Best. Cấp bậc xếp hạng trái phiếu có 22 mức xếp hàng, từ AAA cho đến D. Cụ thể Standard & Poor’s, Fitch Ratings xếp hạng cấp bậc cao nhất thì có mã ký hiệu giống nhau là AAA (tương ứng xếp hạng của Moody's là Aaa). Đây là mức đánh giá trái phiếu có mức cao nhất, đáp ứng mạnh mẽ các cam kết tài chính và khả năng trả nợ an toàn nhất nên cũng dễ vay khi phát hành trái phiếu và trả lãi vay thấp nhất. Loại trái phiếu này nó bao gồm những nước: Mỹ, Úc, Canada, Đan Mạch, Đức, Hồng Kông, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Singapore, Thụy Điển, Thụy Sĩ,..
Xuống tới cấp AA +, AA, AA- (tương ứng Aa1, Aa2, Aa3). Đây cũng là loại rất an toàn, nó cho thấy các công ty, hay chính quyền các quốc gia phát hành trái phiếu có một sự chắc chắn đáp ứng các nghĩa vụ cam kết tài chính của họ về trả nợ tốt. Và xuống thấp hơn là A +, A, A- (A1, A2, A3). Nói chung những quốc gia nào có mức xếp hạng tín nhiệm từ AAA xuống A thì đi vay trả tiền lời rất thấp, vì họ có khả năng trả nợ như Pháp, Phần Lan, Kuwait, UK, Hàn Quốc,…
Khi tới loại B là có rủi ro thì cũng từ ba chữ B hoa đi xuống. Cụ thể đối với loại trái phiếu ký hiệu BBB +, BBB, BBB- (tương ứng Baa1, Baa2, Baa3 mà Moody's đánh giá). Những trái phiếu loại này vẫn hoàn toàn có đủ khả năng để đáp ứng các cam kết về nghĩa vụ tài chính trả nợ, nhưng vẫn gặp bất ổn nếu điều kiện kinh tế gặp bất lợi, như tác động của lạm phát, GDP tăng trưởng thấp,...vì kinh tế phụ thuộc vào yếu tố tài nguyên như dầu thô sụt giá chẳng hạn.
Đối với trái phiếu BB+, BB, BB- (tương ứng Ba1, Ba2, Ba3), xuống nữa là B +, B, B- (B1, B2, B3). Đây là loại trái phiếu bắt đầu có rủi ro, các nghĩa vụ cam kết về tài chính không chắc chắn. Tới cấp nguy ngập có thể vỡ nợ là loại C, và rủi ro nhất là loại D. Cụ thể là loại trái phiếu ký hiệu CCC +, CCC, CCC- (Caa1, Caa2, Caa3), xuống thấp dần là CC (Ca), C và D, là loại trái phiếu vô giá trị tức "junk bonds", trái phiếu rác. Các mức trái phiếu rác là từ cấp B-, CCC+, CCC- CC, C,....
Điều tồi tệ không may, những quốc gia nào nào bị chấm điểm B thì trái phiếu bị coi là có tính đầu cơ cao là có rủi ro và đi vay trả lãi đắt. Còn loại C cho đến D thì khỏi cần trả lãi hay đi vay nữa. Giữa các mã số A hay B hay C hay D đó, các công ty như Standard & Poor’s, Moody's, Fitch Ratings họ còn đánh "dấu cộng" hay "dấu trừ" để có thang điểm khuyến khích tinh vi hơn, gồm có chừng 22 mức mà còn kèm theo cụm từ nhắc nhở để khuyến cáo như "negative" (tiêu cực), hoặc "stable" (ổn định), hoặc khuyến khích nâng đỡ là "positive" (tích cực).
Nói chung, để nhanh chóng ước lượng các rủi ro, các công ty như Standard & Poor’s, Moody's, Fitch Ratings thường phải cân nhắc rất kỹ vào các một số yếu tố sau đây:
Cụ thể, họ căn cứ vào các yếu tố như: GDP, tăng trưởng GDP, thị trường chứng khoán, tỷ lệ lạm phát, dân số, chỉ số giá tiêu dùng (CPI), lãi suất, dự trữ ngoại hối, nợ nước ngoài, các khoản cho vay khu vực tư nhân, chỉ số PMI, đầu tư trực tiếp nước ngoài, nợ chính phủ so với GDP, giá trị ngân sách chính phủ, chi tiêu của chính phủ, cán cân thương mại, tài khoản vãng lai, tài khoản vãng lai so với GDP, thuế suất doanh nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp, các chỉ số tham nhũng, chỉ số dễ kinh doanh,…rất nhiều thứ khá phức tạp để thẩm định tương đối chính xác về nền kinh tế nước đó khi họ cân nhắc đánh giá trái phiếu và khả năng trả nợ.
Chẳng hạn như "nợ nước ngoài, nợ chính phủ so với GDP", họ xét quốc gia đó vay nợ trước đấy bao nhiêu và hàng năm hàng tháng phải trả nợ là bao nhiêu tiền, cả vốn lẫn lời. Nói chung, nếu đã mắc nợ nhiều thì sẽ rất khó vay thêm, nếu vay được thì trả lãi đắt vì rủi ro trả nợ thấp. Còn nợ ít thì dễ đi vay và vay được sẽ trả lãi thấp hơn vì thị trường cho vay tin rằng nợ ít thì tiền vay sẽ đi thẳng vào đầu tư nên sẽ dễ trả nợ hơn,….
Trường hợp như "tăng trưởng GDP". Nếu họ xét quốc gia đó hàng năm hàng quý có tỷ lệ tăng trưởng GDP cao ổn định thì Standard & Poor’s, Moody's, hoặc Fitch thông báo cho các nhà đầu tư muốn mua trái phiếu, tức cho vay, họ sẽ an tâm vì khả năng trả nợ "chưa có rủi ro", nếu thấy tích cực trong dài hạn thì lãi vay sẽ hạ xuống. Tuy nhiên, nếu họ xét thấy tăng trưởng GDP của quốc gia đó thiếu ổn định và đáng nghi, hay tăng trưởng thấp, các cơ quan đánh giá tín nhiệm sẽ cảnh báo các nhà đầu tư hay chủ nợ họ sẽ gặp rủi ro mất nợ vì khả năng bất ổn định nền kinh tế này. Vì tăng trưởng GDP thấp thì làm thế nào quốc gia đó lấy đâu ra tiền trả nợ.
Đối với việc đánh giá "dự trữ ngoại hối". Họ xét tới yếu tố ngoài việc thanh toán trả nợ nước ngoài bằng ngoại tệ, thì quốc gia đó còn bao nhiêu dự trữ ngoại hối phải nhập khẩu bao nhiêu, tức là sẽ còn phải chi ra bao nhiêu ngoại tệ so với nguồn dự trữ ngoại tệ sẵn có trong kho dự trữ ngoại hối. Nói chung, ho sẽ đánh giá dự trữ ngoại tệ quốc gia đó còn đủ tài trợ cho mấy tuần hay mấy tháng nhập khẩu, nếu dưới ba tháng là có rủi ro, và khó vay tiền, hoặc nếu đi vay cũng phải trả lãi đắt đỏ.
Về yếu tố "cán cân thương mại", tức họ sẽ đánh giá khả năng xuất khẩu quốc gia đó để có ngoại tệ nhiều hay ít, cũng như phụ thuộc vào sự ổn định của thị trường sẵn có của đối tác, thí dụ như nếu như trường hợp Mỹ khi Donald Trump quay về chủ nghĩa bảo hộ thương mại thì VN càng khó bán hàng và dễ nhập siêu thì càng rủi ro cao, và càng dễ bị hạ thấp tín nhiệm, vì bị cả rủi ro tín dụng nếu VN phá giá đồng nội tệ (VND), cộng với họ sẽ tính toán thị trường của TQ mà VN hay trao cái thong lọng cho họ, nếu họ phân tích thấy rằng về dài TQ sẽ phá giá đồng RMB để tìm kiếm thị trường khác nhờ bán hàng rẻ thì VN sẽ khó cạnh tranh và mất thị trường là hết tiền trả nợ vì hay bị nhập siêu, vì nạn bội chi ngân sách, lẫn rủi ro ngoại hối, là phải trả nợ nặng lãi hơn vì tỷ giá đồng nội tệ hay bị trượt giá dù rằng VN có phá giá hay không phá giá để tài trợ xuất khẩu,…
Hiệu ứng ngược lại, nếu VN có các thị trường xuất khẩu được đánh giá ổn định trong dài hạn, đối tác xuất khẩu của VN có độ tin cậy cao thì rủi ro càng ít thì dễ đi vay,... Đây chỉ là vài lý do trong hàng trăm lý do mà các cơ quan thẩm định tài chính phân tích và đi đến kết luận cho giới đầu tư cân nhắc khi cho VN hay các quốc gia khác vay tiền.
Đối với việc VN vay lãi bằng USD trong nước, thậm chí là 0%, và lãi vay cho doanh nghiệp ngắn hạn là 3 - 3,5%, đây là lãi vay hoàn toàn khác với lãi vay trên thị trường quốc tế. Và lãi vay này do chính NHNN VN hay ngân hàng thương mại ấn định, và còn tùy thuộc người dân họ có ký thác gửi để cho vay dài hạn hay không để VN có thanh khoản, đó là quyết định của người dân và người ký thác, và lãi vay này NHNN VN hay các ngân hàng thượng mại phải trải lại nguyên vẹn cho thân chủ ký thác bằng ngoại tệ nếu họ bảo lưu lấy ra đồng tiền họ gửi, chính vì thế NHNN VN hay các ngân hàng thượng mại không thể lấy số ngoại tệ đó trả nợ nước ngoài mà trả cho người ký thác bằng tiền VND mà phải trả cho họ USD, trừ trường hợp người ký thác bán ngoại tệ cho NHNN VN hay các ngân hàng thượng mại. Đây là trường NHNN VN đang thi hành "chống đô la hóa" bằng việc khuyến khích người dân bán ngoại tệ USD để chuyển đổi ra VND hưởng lãi suất cao,....
Có lẽ cái NHNN VN nên chấm dứt dùng cái cụm từ “chống đô la hóa”, một di sản đã lỗi thời, mà tốt nhất họ nên phủ nhận thất bại và nên nói thật là nâng ký thác dồng $ bám sát lãi suất mà FED đang thi hành để vay mượn công chúng nước mình thì tốt hơn, vì vay như vậy lãi sẽ rẻ hơn mà không lo ngại bị chủ nợ áp lực tăng lãi suất, vì đi vay bên ngoài hay vay của người dân trong nước thì cuối cùng người dân vẫn phải trả nợ cả. Nợ nần thì quốc gia nào mà chẳng mắc nợ nên đừng mập mờ làm gì nữa.