16 tháng 1, 2017

NỢ XẤU VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Trước hết là hiện trượng bất thường về việc "trảm tướng VAMC, và đều là tướng tiến sĩ tài chính ngân hàng". Đúng việc thay tướng VAMC này nó cho thấy sự thất bại của nó, và người ta cần giải thể cái VAMC này có cái ly nước quá ít mà đòi dập tắt một đám cháy núi lửa nợ xấu quá lớn thì đúng là khó tin. Chỉ còn cách xóa nợ, và nhà nước bỏ tiền ra châm vô đó mà giải quyết dứt điểm nợ xấu thôi chứ lập ra cái VAMC chỉ tốn thêm tiền trả lương nuôi bộ máy dư thừa này vì nó đã thất bại hoàn toàn.
Trở lại hồ sơ nơ xấu bài viết cũ mà tôi trích lại: Nợ xấu được Qũy Tiền tệ Quốc tế IMF đinh nghĩa như sau, xin trích nguyên văn: "Nonperforming loans are defined as those for which: (a) payments of principal and interest are past due by three months (90 days) or more, or (b) interest payments equal to three months’(90 days’) interest or more have been capitalized (reinvested into the principal amount) or payment has been delayed by agreement, or (c) evidence exists to classify a loan as nonperforming even in the absence of a 90-day past due payment, such as when the debtor files for bankruptcy,..." (chương 7, mục 7.50). Nguồn dẫn ở VN sẽ là:www.imf.org/external/pubs/ft/bop/2007/pdf/chap7.pdf (file văn bản lớn nên định dạng là PDF, bạn đọc tải xuống, văn bản viết bàng tiếng Anh).
Nói vắn tắt lại là nợ được coi là xấu khi: (a) người vay không trả được nợ gốc và lãi từ 90 ngày trở lên, hay (b) khi lãi trong 90 ngày được biến thành nợ gốc, hoặc được hoãn trả theo hợp đồng, hoặc (c) dù thời gian không trả được thấp hơn 90 ngày nhưng có chứng cứ là người vay đã nộp đơn xin phá sản,...
VN có thể họ định nghĩa khác về nợ xấu, có thể họ định nghĩa nợ xấu dài hơn của quốc tế thì nợ xấu giảm xuống, nếu định nghĩa nợ xấu thay vì 90 ngày thì họ định nghĩa cả năm thì nợ xấu sẽ ít đi, hoặc sẽ chẳng có nợ xấu nào nữa nếu họ định nghĩa thời gian dài hơn 10 năm hay 100 năm,...
Về nợ xấu, ta nên nhớ Mỹ và Nhật đã mất nhiều thời giản dài đáng kể để khắc phục hậu quả khủng hoảng tài chính do nợ xấu gây ra như tài sản mất giá. Nói chung, vấn đề cơ bản nằm ở chỗ là giá trị tài sản của các doanh nghiệp và người dân giảm. Dẫn đến hệ lụy như các khoản đầu tư vào sản xuất giảm. Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp do vậy giảm theo, thậm chí là rơi xuống số âm. Về đại thể, thông thường gặp trường hợp này, người ta thường ưu tiên là phải thanh toán bớt nợ nần. Điều đó nôm na là buộc doanh nghiệp phải giảm nợ, có nghĩa là doanh nghiệp sẽ không đầu tư thêm, mặc dù ngân hàng có cho vay với lãi suất hạ.
Thường thường khi một kinh tế tăng trưởng tốt, giá tài sản tăng thì người đi vay để đầu tư và kiếm lời, khi đầu tư thấy lời quá dễ dàng thì người ta chuyển qua đầu cơ vì nghĩ là mình khôn hơn người khác. Điều tồi tệ xẩy ra khi kinh tế tăng trưởng chậm lại thì "bong bóng tài sản" (asset bubble), chủ yếu vẫn là real estate bubble (bong bóng bất động sản) cũng như việc "giảm giá chứng khoán" (falling stock price), liên quan đến tài sản thế chấp ngân hàng bị giảm giá, và khi bóng bể thì tất nhiên sẽ ảnh hưởng sẽ dội ngược vào nền kinh tế.
Nói chung, vẫn đề ở chỗ là các ngân hàng khi thẩm định cho vay, vì các ngân hàng đã định giá tài sản đảm bảo cao hơn giá trị thật của tài sản thế chấp, chẳng hạn như giá cổ phiếu hay bất động sản, khi giá tài sản đó giảm dưới dưới mức giá cho vay thể chấp thì ngân hàng mắc kẹt vì giá tài sản giảm. Khi giá tăng thì ngân hàng và người vay đều có lời. Đây là trò đánh bạc cả kẻ vay và người cho vay.
Ở Mỹ, nợ xấu xẩy ra khi nhà cửa được xây cất lên quá nhiều trong thời gian ngắn, những khoản tiền cho vay dễ dãi được gọi là "subprime loans", tức là những khoản tiền tài trợ ngắn hạn theo lãi suất thả nổi cho những người có điểm tín dụng thấp. Ở đây, những người có điểm tín dụng thấp thường là những người có thành tích trả nợ không tốt hay trễ hạn trả nợ hoặc không trả không nổi nợ, dẫn đến vỡ nợ, hoặc những người không có công ăn việc làm ổn định hoặc ít khi vay tiền, nói vắn tắt là các ngân hàng hay các cơ sở tín dụng cho vay không nắm rõ thành tích trả nợ của người vay, chẳng hạn nếu họ vay tiền với lãi suất quá thấp trong thời gian ngắn hạn để sau này họ phải tài trợ lại thì lại có những bất lợi khi lãi suất gia tăng.
Gặp trường hợp những khoản tài trợ ngắn hạn với lãi suất rẻ đã đáo hạn, người vay phải tài trợ lại nợ và lãi, tuy nhiên khi gặp trường hợp lãi suất cho vay bắt đầu tăng lên thì người mua bất động sản hay cổ phiếu không đủ khả năng trả nợ thì ngân hàng rơi vào thế kẹt có thể mất nợ, nếu giá tài sản tiếp tục đi xuống, bán không được, thì cả người vay và người cho vay, tức ngân hàng đều bị thua lỗ nặng. Ngân hàng thì gọi là nợ xấu khó đòi và sẽ mất, con nợ thì bỏ trốn hết trả được nợ và bỏ luôn tài sản thế chấp.
Nói chung nguyên nhân của khủng hoảng nợ xấu đều do việc người ta phóng đại các hoạt động tài chính đầy rủi ro quá trớn, thổi giá tài sản tăng cao quá mức so sức mua và lợi tức thu nhập của người dân cho đến lúc giá tài sản giả tạo quá cao đó phải giảm xuống đúng giá trị thật của nó, và dẫn đến hiện tượng nợ xấu. Thí dụ đơn giản giá cổ phiếu công ty A đang tăng ở mức 10 $ / cổ phiếu, người vay thế chấp một bất động sản trị giá 100.000 $ để mua 10.000 cổ phiếu công ty A, cả ngân hàng cho vay và công ty A đều tin rằng giá đó là đáy thấp nhất và sẽ không bao giờ rơi xuống mức dưới 10 $ cho mỗi cổ phiếu, và giá bất động sản đó rẻ nhất cũng được định giá trên 100.000 $. Tuy nhiên khi giá cổ phiếu sụt giảm còn 5 $/cổ phiếu, giá bất động sản thế chấp đó cũng hạ phân nửa còn 50.000 USD, tất nhiên thân chủ, kể cả nhà đầu tư bất động sản vay tiền bỏ chạy, ngân hàng thì ôm mớ tài sản mất giá đó, đương nhiên là mất chứ chẳng thể đòi được. Và nợ xấu chỉ giảm khi công ty A đó có tiền đem chuộc lại bất động sản.
Đây là vẫn đề đơn giản nhất, ai cũng biết cả, tuy nhiên, để hạn chế nợ xấu thì ta cần phải phân biệt ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại với đích ngoài việc phục vụ chi trả cho mua bán hàng hóa và dịch vụ chủ yếu là nhằm thu hút tiền gửi của thân chủ, tầng lớp công chúng hoặc các cá nhân và cho khách hàng (doanh nghiệp hoặc cá nhân) vay tiền để kinh doanh sản xuất và tiêu dùng.
Đối với hoạt động ngân hàng đầu tư chủ yếu là công ty tài chính giúp doanh nghiệp có vốn bằng cách bán cổ phiếu hoặc trái phiếu trên thị trường tài chính và chứng khoán. Tuy nhiên, ngân hàng đầu tư không được nhận tiền ký gửi của công chúng để hoạt động đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chính khác,... Đấy là các hoạt động đầy rủi ro do dễ gây ra nợ xấu, cho nên các ngân hàng đầu tư phải dùng chính tiền vốn do cổ phần viên đóng góp, tức là vốn của chính các giới đầu tư để đầu tư vào thị trường chứng khoán như là cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp tư nhân.
Nhiệm vụ của ngân hàng đầu tư chủ yếu tư vấn phát hành cổ phiếu lần đầu hay IPO và những lần phát hành thêm sau đó, cũng như tư vấn phát hành trái phiếu cho doanh nghiệp cần vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh. Đây là lĩnh vực rất chuyên môn, và ngân hàng đầu tư cũng phải đủ chuyên môn để thẩm định việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đảm bảo đúng giá trị của doanh nghiệp,...
Tại VN thì cả ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại, các công ty tài chính và phi tài chính đều có mục đích như nhau là huy động vốn ký thác của người gửi tiền vừa đầu tư cho vay vừa đầu tư vào cổ phiếu, và nhiều lĩnh vực rủi ro khác như đầu tư vào vàng, bất động sản. Thí dụ như nếu ngân hàng thương mại dùng tiền ký thác của công chúng đem đầu tư vào cổ phiếu để kiếm lời nhanh hơn thực lực thay vì nghiệp vụ của họ là cho vay thương mại kiếm lời nhờ sai biệt lãi suất thì họ đẩy số tiền đó cho giới đầu tư vay chơi stock. kể cả vay quỹ ký, thậm chí cả chính họ cũng lấy tiền ký thác đó đánh bạc đầu tư chứng khoán, hay vàng,... Khi cổ phiếu tăng thì có lời lớn và bỏ túi riêng, tuy nhiên khi giá cổ phiếu nó bị sụt giảm và thị trường chứng khoán bị bể bóng thì mất nợ, để đắp vốn và đắp nợ vào đó thì các ngân hàng này tăng lãi suất ký thác lên để hấp dẫn lòng tham của dân chúng gửi vào, chủ yếu các ngân hàng này họ lấy số tiền ký thác đó để trả lãi và khoản gửi ký thác đáo hạn của người ký thác,...và cứ thế nó chất lên cái tháp nợ và chỉ có đạp bỏ cắt cái ung nhọt đó đi thì nhà nước buộc phải dùng ngân sách mà đắp vốn vào đó thôi.
Hoặc dù họ nếu có lấy được tài sản thế chấp đó cũng khó mà bán được với giá cao hơn thị trường cả, nếu bán được giá cao hơn thị trường thì những ngân hàng này họ không dại dột mà bán lại nợ xấu đó cho nhà nước cả, vì giá tài sản nó giảm nên chỉ có lỗ vốn chứ đừng nghĩ đến chuyện mua bán nợ mà lời hay hòa vốn cả.

Phương Thơ --  Morgan Stanley (NYSE:MS)

(Nguồn: http://phuongtho-morganstanley-ms.blogspot.com/)