16 tháng 1, 2017

Cho rằng Mỹ lấy lý thuyết Marx-Lenin để giải quyết thành công khủng hoảng kinh tế Mỹ?

Tôi thì đã phân tích rất lâu có lẽ độc giả mới, nên tôi trích dẫn lại bài phân tích cũ. Đó là các nước nghèo khó lệch lạc đi theo "nền kinh tế thị trường định hướng XHCN", họ nói rằng cuộc khủng hoảng kinh tế tại Mỹ 2008 - 2009 là do các nhà kinh tế học người Mỹ dùng chủ nghĩa Marx-Lenin để giải quyết thành công cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ, và còn tuyên truyền sự ưu việt của học thuyết chủ nghĩa Marx-Lenin so với học thuyết chủ nghĩa kinh tế tư bản, tức là ám chỉ kinh tế cá nhân và tư nhân của các hộ gia đình, thí dụ những gương mặt CEO: Mark Zuckerberg của Facebook (NASDAQ: FB), Steve Jobs, Ronald Wayne, Steve Wozniak, Tim Cook của Apple (NASDAQ: AAPL), Bill Gates của Microsoft (NASDAQ: MSFT), Boeing (NYSE: BA) của nhà sáng lập: William E. Boeing, Tesla Motors (NASDAQ: TSLA) của tỷ phú Elon Musk,...
Trươc hết thì tôi hay mỉa mai cách suy nghĩ của họ, đó là kinh tế chính trị Marx-Lenin nếu nó tốt đẹp thì quốc gia Liên Xô nó không bị tan rã vì nạn đói khổ và nạn lạm phát. Đó là bởi vì kinh tế XHCN nó có món đặc sản là đồng tiền mất giá, nạn lạm phát và bệnh sùng bái cá nhân. Tức là người ta coi ông tổ Marx-Lenin là thánh nhân, nên vì đó mà người ta không sáng tạo ra các lý thuyết kinh tế mới thay đổi diễn ra hàng ngày, tháng, năm. Chẳng hạn như các giải Nobel kinh tế hiện đại, họ luôn phát minh ra những lý thuyết kinh doanh và điều hành kinh tế mới, vì những nhà kinh tế đoạt giải Nobel đó họ có "cái tôi của họ", là không tôn thờ hay sùng bái chủ nghĩa cá nhân điên cuồng ngu muội.
Bởi vì nếu mà người ta cứ tôn thờ sùng bái cá nhân đó thì người ta chỉ suốt đời làm nô lệ cho cái chủ thuyết kinh tế Marx-Lenin thì người ta không có sáng tạo ra các lý thuyết kinh tế mới và bị cái bóng quá lớn của chủ thuyết kinh tế Marx-Lenin che phủ. Nó cũng giải thích phần nào tại sao quốc gia VN này đã được thống nhất hòa bình hơn 40 năm rồi mà đến bây giờ vẫn còn nhận vốn vay ODA, và dân số vàng, đông, độ tuổi lao động sung mãn, diện tích đất và biển giàu tiềm năng mà bất cứ quóc gia nào cũng thèm muốn nhưng sản lượng kinh tế còn thấp hơn cả tiểu bang nhỏ bé South Carolina chỉ có dân số 4.896.146 người và diện tích khô cằn chỉ có 82.931 km vuông, mà tạo ra sản lượng GDP lên đến 198 tỷ $,...Singapore thì dân số có 5.535.000 dân, diện tích bé tẹo teo là 719,1 km vuông, vậy mà GDP của họ tạo ra trong năm 2015 lên đến 293 tỷ USD,... Vậy mà đến thế kỷ này rồi mà cũng có khá nhiều ông bà chức lớn tại VN vẫn còn tự ru ngủ họ và người dân chúng bằng chủ thuyết ưu việt kinh tế Marx-Lenin này thì đúng là hết thuốc chữa.
Nếu kinh tế XHCN tốt đẹp thì bây giờ không có chuyên bi hài về tiền đồng mất giá, gây giảm giá tài sản của dân chúng tiết kiệm được bao nhiêu năm chỉ một đêm đổi tiền là mất trắng hết tài sản như trong quá khứ, đó là vào ngày 15/9/1985 cách một ngày sau khi Nhà nước VN theo chế độ cao trào của chủ thuyết mô hình kinh tế Marx-Lenin, qua việc thực hiện đổi tiền lần thứ 6, khi đó tỷ giá hối đoái chính thức 1 $ đổi được 15 đồng tiền Việt Nam, vậy mà bây giờ 1 USD đổi ra mấp mé 22.800 VND, và quốc gia này từng nhiều lần đổi tiền trong quá khứ, và xóa trắng tài sản của người dân và doanh nghiệp tích cóp thì nó cho thấy mức độ tàn phá của chủ thuyết kinh tế Marx-Lenin này. Kinh nghiệm gần hơn Venezuela đang lâm nạn vì theo mô hình kinh tế XHCN, tờ giấy bạc Bolivar Venezuela (VEB) vào tháng Giêng năm 1989 rất có giá là chỉ cần 0,05 VEB là đổi được 1 $, thì kể từ khi Hugo Chávez, Nicolás Maduro đưa quốc gia này tiến lên XHCN thì cả đất nước giàu có tài nguyên này rơi xuống vực thẳm sụp đổ, đồng tiền mất giá kinh khủng khi chỉ cần 1 USD = 9,99 VEF, và hiện đơn vị tiền tệ Bolivar Venezuela mất luôn tín hiệu giá trị của nó.
Thứ nữa ông tổ Karl Marx chỉ có tuổi đời 142 năm, Vladimir Ilyich Lenin thì có 147 tuổi so với ngân hàng JPMorgan Chase (NYSE: JPM) có tuổi đời 218 tuổi, thậm chí là cả cái ngân hàng đầu tư Lehman Brothers bị đổ vỡ năm 2008 còn có tuổi đời lớn ông tổ Karl Marx, Lenin đến 20 - 25 tuổi.
Hay cái ngân hàng Anh, Barclays (LON: BARC) có tuổi đời đến 327 năm, hơn 3 thế kỷ cộng 27 năm, tức là lớn tuổi hơn ông tổ Karl Marx đến gần 2 thế kỷ, hay Ngân hàng quốc gia Thụy Điển, có thể gọi là ngân hàng trung ương Thụy Điển (Sveriges Riksbank), nó có tuổi đời gần 3 thế kỷ rưỡi, tức là 348 năm,...thì cái chủ thuyêt kinh tế Marx-Lenin nó là cái gì mà tuyên truyền đến mức mù quáng. Hãy nhớ rằng VN là quốc gia có tổ tiên, là con cháu Lạc Hồng, rồi Đức Vua Hùng, rồi dòng dõi Lý Thường Kiệt xứng danh với tên gọi kiệt xuất mà cả Tổng thống Mỹ Barack Obama cũng phải kính nể, chứ đâu phải mù quáng tôn thờ ngoại lai cái chủ nghĩa Marx-Lenin đã gây ra sụp đổ của Liên Xô kia.
Về hồ sơ phân tích chính sách in tiền vào kinh tế của FED dưới thời giáo sư Ben Bernanke là nhà kinh tế học người Mỹ, mà những ông/bà mang nặng tư tưởng chủ thuyết kinh tế Marx-Lenin hiểu lầm tai hại. Đó là chính sách "nới lỏng định lượng" hay Quantitative easing (QE) mà FED thì hành, đó là họ chỉ trả ra tiền mặt để mua tài sản của các ngân hàng như trái phiếu, chứng phiếu (hình thức chứng khoán), và nhiều hình thức mua tài sản khác để tăng thêm tính thanh khoản cho thị trường vốn cho vay dễ dàng, nó chỉ có tác dụng tương tự như tăng cung tiền, nó như hình thức cấp phát tín dụng cho dự trữ của các ngân hàng để mua các chứng khoán,... Nó chỉ có tác dụng tương tự như việc in tiền vào kinh tế chứ FED họ không ồ ạt in tiền,...
Đó là bởi vì FED từng sở hữu gần 4 nghìn tỷ USD vào cuối năm ngoái, khi họ ồ ạt bán ra trái phiếu, chứng phiếu để thu hồi tiền về nhà do các công ty Mỹ trả lại tiền để chuộc tờ gIấy nợ thế chấp đó, nó cũng tác dụng như việc để FED tăng lãi suất vào cuối năm ngoái, và hiện nay FED chỉ còn sở hữu 2,4 nghìn tỉ $ các khoản nợ của các ngân hàng, các công ty và chính phủ Mỹ , nhờ nới lỏng định lượng và duy trì lãi suất thấp mà không gây ra lạm phát.
Trong tháng 12/2016 -- FED đã ào ạt bán ra trái phiếu, tức là như việc tăng lãi suất lên 0,75% để thu hồi đồng USD về nhà mà doanh nghiệp Mỹ vay,... Đối với các nước XHCN thì họ chỉ nghĩ đến cái nhà máy in tiền thật to lớn, thật hiện đại mà khỏi cần nghĩ đến việc năng xuất lao động tạo ra đồng tiền lương chân chính, in tiền thì chẳng bao giờ thu hồi về nhà thì tiền mất giá không gì lạ,...chính sách phát triển kinh tế thì đi bắt chước học thiên hạ linh tinh như việc VN học tập bắt chước các "Chaebols" Nam Hàn, hay các "Keiretsu" của Nhật Bản đã bị khủng hoảng xưa kia và hậu quả là những quả đấm thép Vinashin, Vinalines,... và nạn ô nhiễm môi trường để lại tổn thất quá lớn, và còn nhiều "Vina" nữa, rồi phát triển kinh tế bẩn "Formosa Hà Tĩnh", rồi các dự án vĩ cuồng khai thác Bauxite ở Tây Nguyên, Lâm Đồng lấy hết đất tài nguyên mà chả thu được đồng lãi nào và còn lỗ vốn, đó là của những kẻ có bộ não bé hạt tiêu theo chủ thuyết kinh tế Marx-Lenin mà muốn to bằng con voi hơn chủ nghĩa kinh tế tư bản thì tất nhiên là lãnh hậu quả, và đất nước mãi lạc hậu,...

Phương Thơ --  Morgan Stanley (NYSE:MS)
(Nguồn: http://phuongtho-morganstanley-ms.blogspot.com/)

PHÂN TÍCH TRỞ LẠI LÃI SUẤT ÂM THỤY SĨ VÀ KHÍ CỤ ĐẦU TƯ TIỀN TỆ ĐỒNG CHF THỤY SĨ



Trong bài phân tích này không có gì mới, vì tôi đã phân tích nhiều lần về lãi suất âm đồng JPY của Nhật rồi, tôi bỏ qua yếu tố lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế. Tôi chỉ phân tích những cú sốc sợ hãi liên quan đến giá cước lãi suất âm tiêu cực, khiến nhiều người lo lắng không có nguồn thu từ việc hưởng giá cước lãi suất dương như xưa, nhưng nó không là điều quan trọng mang tính nền kinh tế bị rủi ro vào đó mà quan trọng là phải biết sự lợi hại trong đầu tư của giá cước âm đó. Và về tỷ giá hối đối đồng USD so với đồng Franc Thụy Sĩ (CHF), bạn đọc nghiên cứu về tài chính xem thêm ở đây: www.federalreserve.gov/releases/h10/hist/dat00_sz.htm
Nếu ta đặt câu hỏi rằng một quốc gia nhỏ bé như Thụy Sĩ mà tiền nhiều lại có giá, dự trữ ngoại hối và vàng lớn hơn cả nước Nga rộng lớn thì ta cần gì khi đầu tư tài sản đó cho an toàn, kể cả mua đồng Franc Thụy Sĩ như hình thức mua trái phiếu, cổ phiếu kể cả gửi tiền ký thác bằng lãi âm đồng Franc Thụy Sĩ (CHF) đó,...
Đối với nghiệp vụ phân tích tài chính (đồng tiền, lãi suất quốc gia ấy chẳng hạn), hay các khí cụ đầu tư khác như cổ phiếu, vàng,...thì ta cần tóm lược qua hệ thống kinh tế, tài chính và dự trữ ngoại hối của quốc gia đó đặt lên hàng đầu trước đã, ta không nhất thiết phải phân tích mấy nghìn trang tài liệu ghi chép tóm tắt vớ vẩn WikiLeaks, Wikipedia,...vì họ cũng chỉ ghi lại sự kiện xẩy ra thôi, và chép lại của các nhà phân tích.
Đó là tôi nhấn mạnh yếu tố khá chuyên môn là trên thế giới hiếm có có gia nào như Thụy Sĩ, một quốc gia dư thừa tiền bạc. Các đánh giá tín nhiệm về trái phiếu mà chính phủ Thụy Sĩ phát hành đồng tiền $, hay CHF mà các cơ quan thẩm định tài chính như Standard & Poor's, Moody's, Fitch xếp hạng ở mức tuyệt đối cao nhất là AAA đi kiểm cụm từ ổn định hay stable. Thụy Sĩ là quốc gia có mức nợ chính phủ trên GDP hết năm 2015 chỉ ở mức 34,4%. Thụy Sĩ có khối dự trữ ngoại hối (ta hiểu như tiền đô USD, EUR,... mà Thụy Sĩ nắm giữ của các tổ chức của nước ngoài, nó như là các khoản dự phòng được tích trữ bằng vàng hoặc đồng tiền USD, JPY, EUR,... và thị trường và giới đầu tư có thể được quyền rút vốn đặc biệt như bằng hình thức ngoại tệ như tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp và chứng khoán và cho vay ngoại tệ nhiều đồng tiền khác,...).
Về định nghĩa khối dự trữ ngoại tệ. Đó là nếu một quốc gia đó tích trữ khối dự trữ ngoại tệ gần như hoặc lớn hơn tổng sản phẩm quốc nội (GDP), hay khả năng về tài nguyên (như dầu thô) lớn lao của đất nước đó thì thị trường và giới đầu tư hay kể cả ngân hàng trung ương nước đó họ có thể ghi dự trữ ngoại tệ bằng chính đồng tiền của họ vẫn được thị trường tài chính chấp nhận chứ không nhất thiết phải ghi là bằng đồng USD, EUR,...
Trên thị trường tài chính quốc tế thì những nước được xét vào dạng đặc biệt là họ có thể ghi dự trữ ngoại tệ của họ bằng chính đồng nội tệ của họ, nó bao gồm các quốc gia sau đây: Thụy Sĩ, Australia, Na Uy, Singapore, Thụy Điển, Saudi Arabia,...
Chẳng hạn tổng kết năm 2015 -- Thụy Sĩ có khối dự trữ ngoại hối lên đến 603 tỷ $, đó là xếp thứ xếp thứ 4 sau TQ, Nhật, Saudi Arabia, Hiện nay tính đến thời điển hết tháng 9/2016 này thì khối dự trữ ngoại hối của Thụy Sĩ là 679 tỷ CHF (mức cao kỷ lục của họ, và cứ thế tính ra tỷ giá đồng USD, hay EUR đều được thị trường chấp nhận cả, và không nhất thiết phải quy đổi ra đồng $).
Trong khi dự trữ vàng thì đạt mức 1.040 tấn vàng, đó là đứng hạng 7 sau Mỹ, Đức, Ý, Pháp, TQ, và Nga. Trong khi tài sản tích trữ bằng đồng $ qua khí cụ đầu tư trái phiếu kho bạc Mỹ thì Thụy Sĩ nắm trong tay 237,9 tỷ $ (hết tháng 8/2016). Đó là đứng hạng 6 các quốc gia nắm giữ tài sản lớn nhất của Mỹ chỉ xếp sau TQ - 1.185,10 tỷ $, Nhật - 1.144,00 tỷ $, Ireland (thiên đường trốn thuế)- 266,40 tỷ $, Quần đảo Cayman (thiên đường trốn thuế) - 264,20 tỷ $, và Brazil - 256,10 tỷ $ (số liệu cũ tôi chưa cập nhật, số liệu mới đã có, nhưng tôi chưa kiểm kê).
Hãy nhớ rằng dù so sánh trên có vẻ Thụy Sĩ thấp hơn các nước đó, nhưng nếu xét theo số dân chỉ có 8,24 triệu dân (WB thống kê năm 2015) thì nó cho thấy đất nước Thụy Sĩ mới là những người sở hữu nhiều tài sản nhất nếu chi đều ra cho dân chúng xài (không tính Mỹ).
Về lãi suất âm, có vẻ nó là cái gì đó mang hình thức "bóc lột tài chính", và chủ yếu đánh vào túi tiền của giới tiết kiệm người già về hưu hay giới trung niên. Thực tế lãi suất âm nó chỉ được áp dụng tại một số nước dư giả tiền bạc, không phải là hình thức in tiền dư giả như VN, Venezuela, Argentina, Angola, Zimbabwe,...
Lãi suất âm (hình thức lãi suất ngắn hạn), thậm chí là lãi suất âm dài hạn (hình thức trái phiếu) gọi chung là "không hưởng lãi suất" (not earning interest), nó chủ yếu được áp dụng tại một số nước có mức thu nhập cao, và nạn giảm phát.
Có vẻ như đối với cụm từ "giảm phát", nó có thể dễ hiểu về lý thuyết, nhưng chắc chắn sẽ rất khó diễn giải đối với các quốc gia họ quen bị nạn lạm phát. Giảm phát được hiểu đơn giản theo nghĩa tài chính, đó là sự tăng giá của một đồng tiền, điều này thường khiến người dân và các doanh nghiệp họ tích trữ tiền mặt thay vì chi tiêu và đầu tư. Điều này nó làm giảm nhu cầu mua sắm chi tiêu, gây áp lực làm giảm giá hàng hóa. Nếu giá cả bán quá thấp có thể dẫn đến lợi nhuận doanh nghiệp sút giảm và làm tăng trưởng kinh tế yếu đi, việc này khiến người tiêu dùng tích trữ tiền mặt nhiều hơn, hoặc do tâm lý người tiêu dùng chờ đợi giá cả xuống thấp hơn nữa họ mới chi tiêu.
Nếu phân tích về chuyên môn thì khí cụ đầu tư lãi suất âm chủ yếu được thiết kế để chống giảm phát bằng cách khuyến khích người dân và doanh nghiệp vay nhiều và chi tiêu nhiều hơn nữa. Hoặc người ta khuyến khích lãi suất âm tiêu cực gây chán nản cho giới đầu tư và dân chúng, khiến họ phải tẩu tán tài sản chuyển tiền gửi ra nước ngoài, hoặc nó làm cho người dân bán đi đồng nội tệ niêm yết bằng lãi suất âm đó (như hình thức in tiền, nhưng nó không do ngân hàng trung ương hay bộ tài chính in tiền), nó cũng là giải pháp làm giảm giá đồng nội tệ của quốc gia đó mà không cần phải dùng biện pháp kinh tế cổ điển như tăng chi, hạ lãi suất, in thêm tiền để giảm giá đồng tiền cho rẻ nhằm hỗ trợ cho xuất khẩu hàng hóa dễ cạnh tranh nhờ đồng tiền được định giá thấp.
Thật bất hạnh, đối với những nước có mức thu nhập cao mà đồng tiền được định giá thấp đó không phải là cách hay, nó rất tốn kém, vì nó đồng nghĩa với việc đồng tiền mất giá thì luôn đi cùng sự sút giảm về đồng lương. Mà cho dù có xuất cảng bán được hàng hóa quá rẻ thì cũng không bù đắp chi phí tài trợ về lãi suất, hay phí tổn đồng lương phải tăng theo đà mất giá của đồng tiền, nó không phải là cách hay và cực kỳ tốn kém nếu kéo dài. Đó chỉ là lý thuyết áp dụng cho các nước có mức thu nhập cao, nhưng đồng tiền không có giá khi lưu hành trên thị trường tài chính. Nhưng với các nước có đơn vị tiền tệ mạnh như Thụy Sĩ, Mỹ, Nhật, hay các nước dùng đồng EUR thì nếu tiền hạ giá, nó cũng không thành vấn đề nghiêm trọng, vì họ có thị trường trong nước ổn định, họ có đủ tiềm lực kinh tế cung ứng giá hàng hóa tiêu dùng trong nước bằng việc bán hàng đúng giá không thay đổi. Thí dụ người tiêu dùng họ mua chiếc xe Volkswagen (ETR: VOW3) giá 20.000 EUR (tỷ giá hối đoái 1 $ = 1,3592 EUR vào tháng 12/2014, và vẫn giữ giá bán đó 1 $ = 1,0560 EUR trong những ngày tháng 1/2017 này) thì việc họ bán chiếc xe đó giá không thay đổi kể là 20.000 EUR kể từ tháng 12/2014 cho đến tháng 1/2017 như đã nói thì nó không ảnh hưởng gì khi đồng tiền đó mất giá, hay trợ giá hỗ trợ xuất khẩu.
Thực tế kinh nghiệm về đầu tư tài chính thì dễ nhận ra rằng, những nước cố tình giảm giá đồng bạc qua hình thức hạ lãi suất âm đó là bởi vì họ đang bù đắp một khoản chi phí quá lớn về đầu tư tài chính vì đồng tiền họ bị mắc kẹt do tăng giá quá cao.
Cụ thể tinh vi nhất, đó là Thụy Sĩ. Đó là bởi vì kể từ đầu tháng 1/2006, giá trị trái phiếu kỳ hạn 10-năm phát hành thì 1 $ = 1,2938 Franc Thụy Sĩ (CHF), bây giờ có lúc 1 USD = 1,00865 CHF, thì rõ ràng người ta phải tính toán làm sao cho cân bằng, vì các nghiệp vụ giao dịch ngắn hạn, giơi đầu tư nào nắm giữ nhiều tài sản niêm yết bằng đồng CHF thì có lời lớn, họ chốt lời bán đi tài sản niêm yết bằng đồng CHF để lấy đồng $ hay EUR để vét hết kho dự trữ ngoại tệ của Thụy Sĩ niêm yết bằng đồng $, EUR và trả ra bạc mặt là đồng CHF thì không có lợi cho Thụy Sĩ,...
Thụy Sĩ hiện nay đang dẫn đầu danh sách các nước thi hành chính sách lãi suất âm. Về khi cụ đầu tư tài chính Ngân hàng trung ương Thụy Sĩ (SNB) cắt hạ lãi suất suất huy động về giữ ở mức thấp kỷ lục là âm -0,50% vào ngày 18/12/2014 (từ mức 0,125% vào ngày 03/8/2011), nó gây rúng động thị trường tài chính thế giới, và gây khó hiểu cho các nhà đầu tư và giới phân tích kinh tế. Đến ngày 15/1/2015 -- SNB tiếp tục gây ngạc nhiên thị trường tài chính thế giới khi họ cắt hạ lãi suất tiếp đến 25 điểm âm cơ bản xuống tới mức -0,75%. Đã thế vào ngày 15/09/2015 -- SNB tuyên bố chính thức từ bỏ tỷ giá tối thiểu là 1,20 Franc Thụy Sĩ (CHF) = 1 EUR, và thả nổi đồng CHF.
Thực tế là Thụy Sĩ đã từng duy trì mức lãi suất dương cao hơn lãi suất Federal Funds Rate thấp nhất của Mỹ là 0,25%, khi FED thi hành vào tháng 12/2008, so với mức lãi suất của Thụy Sĩ duy trì là 0,50% cũng trong tháng 12/2008. Trước đó vào ngày 14/6/2007 -- Ngân hàng trung ương Thụy Sĩ (SNB) duy trì lãi suất của họ lên tới 2,50%, đó là bởi vì lạm phát của Thụy Sĩ cao, đồng Franc Thụy Sĩ (CHF) mất giá, khi đó 1 EUR có giá bằng 1,66550 CHF vào tháng 9/2007.
Vì bây giờ đồng EUR giảm giá quá sâu so với đồng USD, có lúc vào cuối tháng 11/2015, có lúc 1 EUR chỉ còn đổi được 1,0565 USD, đây là mức mất giá tệ hại của đồng EUR, vì vào tháng ngày 16/4/2008, khi đó 1 EUR = 1,5978 $.
Về hình thức khí cụ đầu tư lãi suất dài hạn của trái phiếu, ở đây ta lấy lãi trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10-năm. Tính đến thời điểm giao dịch trái phiếu (lãi suất dài hạn) áp dụng cho kỳ hạn 10-năm thì trên thị trường tài chính thế giới có duy nhất quốc gia Thụy Sĩ đang niêm yết mức lãi suất trái phiếu này âm tiêu cực. Tức là của Thụy Sĩ thì âm -0,21%. Khu vực đồng EUR thì không tính, vì nó quá nhiều nước hỗn hợp.
Điều đó có nghĩa là giới đầu tư khi đầu tư vào các khí cụ lãi suất âm này không được trả tiền lời mà còn phải trả phí bằng ấy phần trăm vì tiền CHF tăng giá như đã nói. Thực tế lãi suất âm như vậy giới đầu tư vẫn có lời lớn khi đồng CHF tăng giá (nếu tăng giá 5-7% thôi cũng cũng có lời).
Thực tế Thụy Sĩ thừa kinh nghiệm để kiểm soát đồng CHF nhảy nhót linh tinh, họ buộc để mất kiểm soát để bứt neo khỏi đồng EUR sút giảm quá sau thì không có lợi, nếu tăng quá mạnh thì bị kẹt nhiều thứ. Cụ thể vào ngày 22/4/2008 - Tỷ giá hối đoái đồng EUR/USD là 1,6010 $, hiện nay thì 1 EUR = 1,0560 $, nên không có gì ngạc nhiên mà Ngân hàng trung ương Thụy Sĩ họ buộc phải duy trì lãi suất âm đồng CHF chẳng mong muốn này, và tuyên bố từ bỏ việc neo tỷ giá cố định đồng CHF vào đồng EUR và thả nổi đồng CHF là điều nhanh nhạy nhằm tránh cho việc giới đầu tư vét sạch kho dự trữ ngoại hối của họ cũng như tiền Thụy Sĩ tăng giá mạnh,... Thụy Sĩ cũng là con buôn và là con cáo già tài chính nên đừng thắc mắc họ ngu ngốc hạ lãi âm bằng đồng nội tệ của họ,...
(*) Trên đây là bài phân tích lại mà tôi tổng hợp, nó không đơn giản như nhiều người ngạc nhiên, thực tế khi đi vào phỏng vấn chuyên môn tại thị trường London thì tôi lại phân tích khác, nó rất phức tạp với nghiệp vụ đầu tư này. Ta thấy dù tỷ giá Euro / Swiss Franc do Thụy Sĩ thả neo, giới đầu tư vẫn không hề hấn sợ hãi mà còn lao đầu mua vào đồng CHF khiến đồng CHF tăng giá mạnh so với đồng EUR làm cho Thụy Sĩ khốn đốn tìm mọi cách hạ giá đồng CHF của họ kể cả hạ lãi suất âm tiêu cực.

Phương Thơ --  Morgan Stanley (NYSE:MS)
(Nguồn: http://phuongtho-morganstanley-ms.blogspot.com/)

LẠI LÀ VÀNG, CÓ LẼ TRÁI PHIẾU CỦA VN ĐANG BỊ RÁCH

Vàng là thứ quý kim luôn có sức hấp dẫn quyến rũ sáng chói của màu vàng tinh khiết, nhất là nó luôn hấp dẫn bất cứ ai trong thời buổi kinh tế đầy rủi ro rất khó khăn trên bình diện toàn cầu, khi mà nhiều nước lớn quay về chủ nghĩa bảo hộ thì vàng nó luôn là "vua tiền mặt để phòng hờ bất trắc" đối với một đất nước đang có bất ổn kinh tế, như khủng hoảng nợ nần quá cao khi mắc nợ công quá lớn, xuất khẩu khó khăn khiến tài sản quốc gia đó mất giá như tiền tệ chẳng hạn.
Đối với VN. Ôi thôi, tôi thì hay mỉa mai rằng, chính phủ quốc gia này họ cứ nghĩ là chỉ có họ mới có trí khôn để biết sử dụng vàng để đầu tư hay sao. Chắc là họ nghĩ rằng người dân và nhà đầu tư tại VN quá kém là họ không biết sử dụng vàng để đầu tư hay sao nhỉ? Thật bó tay mà. Cái thời Hàn Quốc huy động vàng của dân là khác biệt rất lớn, đó là chế độ đa đảng, dân chủ do người dân bầu lên và họ cũng phế truất ai điều hành kém, và cả người dân lẫn doanh nghiệp tư doanh, cộng với các "Chaebols" Nam Hàn đều bình đẳng tham gia phát triển kinh tế, khi kinh tế bị suy sụp tất nhiên người dân phải có một trách nhiệm trong đó,... Việc đấy là huy động vàng cứu nguy kinh tế chứ không huy động vàng của dân để phát triển kinh tế.
Đối với VN thì huy động vàng của dân nếu làm thất thoát và bị lỗ nặng mất khả năng chi trả lại vàng cho dân thì lại họp bàn "rút kinh nghiệm, kiểm điểm sâu sắc",.... rồi huề nhau cả, vì cá nhân lãnh đạo, tập thể chịu trách nhiệm nên chả ai bị sao cả thì làm sao mà nói đến huy động vàng trong dân được. Người dân giữ vàng họ cũng biết tự đầu tư mà, ít ra họ còn giỏi hơn mấy ông bà quan chức VN là người dân họ biết kiếm ra tiền để mua được vàng thì họ không ngu đâu, còn quan chức VN thì có mấy ai tự làm ra tiền bao giờ đâu,...
Tôi thì không hiểu làm sao mà người tính toán ra được người dân VN đang giấu khoảng 500 tấn vàng thì quả là kỳ tích và có khả năng tiên đoán chính xác cao độ. Vì bình thường ước đoán tính toán người dân của một quốc giai cất giữ bao nhiêu vàng thì rất khó tính toán và khó đoán. Nó khác với "dự trữ vàng của các chính phủ, như là kho dự trữ ngoại hối thì còn tính được vì nó được giao dịch và ký thác trên thị trường vàng,...".
Hãy nhớ rằng, hầu hết các nhà đầu tư thường có ít nhất một số tài sản vàng trong danh mục đầu tư của họ, nhằm bảo hiểm tổn thất tài sản của họ để chống lại sự sụt giá của các đồng tiền, đó là thường là đồng USD, EUR,...và bảo hiểm chống lại sự lạm phát tăng lên, và nền kinh tế toàn cầu bất ổn, và người ta đầu tư vào vàng cũng để kiếm lời nhé chứ chẳng phải NHNN VN là chỉ có đầu tư vàng.
Tôi thì hay nghi ngờ và cảnh báo rồi, có lẽ trái phiếu chính phủ của VN đang bị rách, một trái phiếu ổn định khi đồng tiền tăng giá và có giá, đó là những phiếu chính phủ nó thường là được xem gần như an toàn tuyệt đối trước đây dễ huy động tiền và ngoại tệ, nhưng tôi e rằng những trái phiếu này của VN bây giờ có lẽ không còn an toàn nữa nên mới nghĩ ra cách huy động vàng trong dân. Vì nếu trái phiếu còn an toàn thì đâu cần thiết phải nhăm nhe vàng của người làm gì vì vàng đó là tài sản phòng hờ dự phòng của người dân VN cũng như của hồi môn cưới hỏi,...nên tha cho người dân đi.
Kết luận của tôi là nếu nhà nước VN, hay NHNN nếu khôn hơn thiên hạ thì ra ngoài huy động vàng để đầu tư tại các thị trường hay các quỹ giao dịch vàng trên thế giới thì muốn bao nhiêu vàng cũng có đấy, nó đâu thiếu đâu,... chắc là không đủ chuyên môn và nghiệp vụ về khí cụ đầu tư vàng rất khó hiểu này rồi.

Phương Thơ --  Morgan Stanley (NYSE:MS)
(Nguồn: http://phuongtho-morganstanley-ms.blogspot.com/)
Vàng - một tài sản giá trị, hữu hình trong khi đó Nhà nước muốn huy động vàng…
CAFEF.VN|BỞI CAFEF

KHI GIÁ TÀI SẢN, TÀI NGUYÊN TẬP TRUNG QUÁ LỚN VÀO THIỂU SỐ LỢI ÍCH NHÓM LÀM NGHÈO ĐẤT NƯỚC

Đây là bài phân tích khá chuyên về kinh nghiệm trong đầu tư mà tôi thẩm định rủi ro dự án cũng như tham gia quản lý các quỹ đầu cơ xưa kia và đúc kết ra kinh nghiệm rất chuyên môn khi phân tích "kinh tế vĩ mô quốc tế", về sự giàu nghèo của các quốc gia bị chi phối bởi các tập đoàn kinh tế lớn, và thiểu số tỷ phú $ chi phối nền kinh tế.
Trên thế giới, nếu giá tài sản tập trung vào một số tỷ phú hay các tập đoàn công nghiệp không chi phối về sản phẩm số đông của người dân thì nó thúc đẩy nền kinh tế đó sản sinh ra nhiều công ty phụ trợ rất sáng tạo, đôi khi còn vượt trội cả công ty mẹ.
Đó là những tên tuổi lẫy lừng tạo ra nhiều công việc làm rất lớn, cũng như tạo ra nhiều công ty gia công thiết bị linh kiện cho họ mà không ngốn tài nguyên của quốc gia như đất đai, sông biển,...như trường hợp Boeing, Caterpillar, Cisco, General Electric, Apple, IBM, Sony, Microsoft, Intel, Airbus, BMW, Volkswagen, Toyota, Siemens, Telefonaktiebolaget LM Ericsson, Samsung,...nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển vượt bậc, vì không cạnh tranh ngay chính lĩnh vực khác của người lao động như người dân làm nông nghiệp chẳng hạn. Nếu tiền càng tập trung nhiều vào những lãnh đạo các đại công ty này thì họ càng mở rộng phát triển mạnh và thu dụng thêm nhiều nhân công nữa.
Tuy nhiên đối ngược lại tại những quốc gia mà giá tài sản tập trung quá lớn vào nhóm lợi ích chi phối quá lớn về đất đai tài nguyên của quốc gia, và họ tập trung cạnh tranh với chính ngành nghề của người dân họ thì nó gieo họa cho cả đất nước sẽ tan vỡ tan tành, quốc gia mất sáng tạo, nền kinh tế suy yếu vì đánh sụt giá tài sản của người dân, làm giảm sức tiêu dùng người dân.
Lý do rất đơn giản, tại VN, số lượng người giàu và tỷ phú nổi lên rất nhanh chóng, một số ít thì đi lên bằng sáng tạo, phần còn lại đi nên từ kinh doanh bất động sản, và thậm chí là các dự án nông nghiệp cạnh tranh với chính người nông dân họ. Thay vì thiểu số các đại gia này nên tập trung phát triển các ngành nghề khác cần thiết cho nền công nghiệp của VN, nhưng họ chẳng làm nổi chuyện này và để khoảng trống tai hại cho các doanh nghiệp TQ thao túng đủ mọi ngành nghề cơ bản nhất như cơ khí chế tạo, vật liệu cơ bản, điện tử, tin học, hóa-sinh,...của VN.
Giới đại gia đi lên bất động sản này ít khi nào dám bỏ tiền liên kết đầu tư thí nghiệm phát triển hóa-sinh về hạt giống cây trồng nhằm cung cấp cho nông dân, nhưng đằng này họ đi theo nghiệp vụ đầu tư "thuần nông chính hiệu dễ làm nhất", họ chỉ kinh doanh để cạnh tranh với chính sản phẩm của nông dân của họ. Đó là họ có tiềm lực tài chính mờ ảo và mờ ám nên dễ dàng bao tiêu mua hoặc sở hữu hết đất nông nghiệp rất lơn, và vô tình đẩy các nông dân (nông gia) khỏi cuộc chơi vì đất đai sinh kế của họ càng bị thu hẹp,...
Thậm chí là hiện nay một số đại gia của VN quay sang trồng rau sạch cạnh tranh với chính nông dân trồng rau của họ, thay vì giới chức VN nên hướng dẫn để nông gia (nông dân) VN trồng rau sạch, hay trồng các sản phẩm nông nghiệp theo tiêu chuẩn của thị trường, vì người dân họ thừa kinh nghiệm để làm chuyện này, việc khá đơn giản, nó cũng làm tăng thêm thu nhập của người dân, nhưng ở VN cả đội ngũ đông đảo giáo sư, tiến sĩ nông nghiệp tại VN có vẻ họ chẳng làm lên trò trống gì cho nông dân. Đó là tôi phân tích riêng biệt đối với VN, chuyện thực tế diễn ra hàng ngày.
Thậm tệ người ta còn tranh giành thị phần nước mắm truyền thống của người dân VN bằng mọi thủ thuật để đẩy nhiều doanh nghiệp đích thực của VN ra khỏi cuộc chơi thì thử hỏi làm sao mà đất nước này khá lên được khi mà người ta tranh phần nhau những nghiệp vụ đầu tư của cả nông dân.
Hãy nhìn sang các nước Singapore, Đài Loan, Canada, Úc, Hàn Quốc, Nhật, Mỹ, và cả khối kinh tế EU,... có nơi nào trên thế giới như tại VN mà người ta lấn sân quá mức để dành phần thị trường của nông dân nghèo hay không?
Bài học lỗ hổng tai hại của nền kinh tế VN đó là mới đây dẫn nguồn nhiều tờ báo tại VN trích dẫn "Doanh nghiệp Trung Quốc đề xuất xây nhà máy kẽm ở Huế", hay Tập đoàn FLC đòi UBND dời trụ sở để nhường đất vàng cho doanh nghiệp xây dựng xây dựng tổ hợp tháp đôi thì thử hỏi làm sao mà VN khá lên nổi bởi những doanh gia hay nói đúng hơn là "doanh gian" này chỉ có biết dành đất của của quốc gia và nhắm vào những miếng đất vàng miễn phí mà ít trả thuế và phí chỉ để làm lợi cho họ thì làm sao mà đất nước khá lên nổi.
Nếu cả đất nước nước này toàn thấy 10/8 doanh nghiệp đều dính dáng đến tài nguyên quốc gia để làm giàu và gom đất chiếm dụng quá lớn lao mà không tạo ra sản phẩm thực tế cho sản xuất về trí tuệ thì làm sao mà VN có được những doanh nghiệp như Đài Loan chẳng hạn: Foxconn Technology, Acer, Asus, BenQ, D-Link, Dopod, Nanya Technology, ADATA Technology Co, Ltd, Alchip,... để mà thu hút khách đầu tư trí tuệ thay vì chỉ có thu hút khách đầu tư bất động sản, sắt thép,... toàn những thứ đầu tư bong bóng độc hại.
Không phải tôi hay nặng lời, đó là sự thật khi tôi tư vấn cho các doanh nghiệp công nghệ cao hay các doanh nghiệp chuyên về công nghiệp chế tạo, họ cũng rất muốn đầu tư vào VN nhưng các dự án kém phẩm chất đã chật chội và chiếm hết phần tài nguyên lớn, còn phẩm chất gia công linh kiện thì hầu như không có doanh nghiệp nào của VN đáp ứng tiêu chí của họ,...thì làm sao mà họ dám đầu tư vào VN được.
Trong kinh tế học, khi một số tài sản quá lớn dồn vào một thiểu số chiếm dụng tài nguyên đất đai, bờ biển quá rộng mà không sử dụng cho mục đích sản xuất hay đầu tư thực tế, mà họ chỉ găm vào đó để đóng băng những thứ tài sản này chỉ bán được cho người dân trong nước thì thật đáng ngại, vì cả tiền vay ngân hàng và tài nguyên đất đai quá lớn cứ châm vốn vào đó chỉ để bảo vệ tài sản ảo của họ, hoặc chỉ để cho người vay dễ mua nhà để giải phóng bớt hàng tồn kho nhằm cứu những thiếu số mắc kẹt thổi bóng bất động sản lỡ vay tiền ngân hàng để bán ra khỏi bị lỗ vốn mà còn dư tiền trả lãi ngân hàng thì rất nguy hiểm cho nền kinh tế. Đó là bởi vì mức thu nhập người mua nhà quá cao đó khiến người ta lỡ mua nhà chỉ lo tiết kiệm để trả lãi và ít chi tiêu, ít mua sắm, làm cho tiêu dùng nội địa bị sút giảm thì nguy cấp.
VN là quốc gia có mức tăng trưởng tín dụng thuộc loại Top đầu của thế giới, nhưng như tôi hay nhắc, mức tín dụng đó bơm ra mà không đưa vào đầu tư mà chỉ chảy lòng vòng những khí cụ đầu tư như tôi hay phân tích thì thật đáng báo động.
(*) Thực tế không phải tôi hay phê phán ai, bất kể người Mỹ nào họ cũng luôn ưu ái VN cả, đó là xuất khẩu của VN vào thị trường Mỹ chiếm một ngạch số lớn hơn bất cứ thị trường nào mà VN xuất khẩu, và người Mỹ cũng rất muốn VN giàu mạnh như Hàn Quốc cả để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, cũng như không lệ thuộc vào các dự án đầu tư bẩn của TQ, nhưng đành chịu, vì tại VN nếu bạn là nhà phân tích giàu kinh nghiệm thì sẽ thấy ra là VN đang phí phạm quá lớn về thu gọn với các nước khác, và đang chệch hướng và lạc hậu vì số người quá bảo thủ duy ý trí, nhưng đây là chuyện nội bộ của VN, vì các nước khác cũng không có quyền xông thẳng vào VN mà nói ông này lãnh đạo kém cỏi hay ông kia thế này cả.

Phương Thơ --  Morgan Stanley (NYSE:MS)
(Nguồn: http://phuongtho-morganstanley-ms.blogspot.com/)

ĐỂ TRỞ THÀNH CHUYÊN GIA TÀI CHÍNH WALL STREET

Nhiều người cứ hay thắc mắc nhiều lần là vì sao tôi hiểu rõ VN hơn họ. Từ trái phiếu, nợ, thị trường tài chính và chứng khoán, ngoại thương, nhất là thị trường tài chính mà tôi hay phân tích khí cụ đầu tư tỷ giá hối đoái cố định của đơn vị tiền tệ VND neo vào đồng $, như việc tôi nếu luôn cả 3 thị trường tài chính neo giá đơn vị tiền tệ của họ vào đồng $ kiểu này, đó là những quốc gia neo tỷ giá cố định, kèm cụm từ "nới biên độ +/-2%, +/-3%", nó bao gồm Trung Quốc, Singapore, và Việt Nam. Nhất là đồng bạc Chinese Yuan Renminbi (RMB, CNY) của TQ, và đồng bạc VND của VN.
Nhưng khi phân tích ra như vậy hầu hết các chuyên gia kinh tế lâu năm nhất của VN họ cũng chả biết là như thế nào, và rất ngạc nhiên về nó. Thậm chí là tôi hay phân tích các nước neo tỷ giá cố định kinh điển cột chặt vào đồng $, EUR, và các nước có đơn vị tiền tệ thả nổi thì tại VN chuyên gia kinh tế cũng chẳng hiểu nổi luôn, rất buồn cười.
Đó là bởi vì chuyên gia tài chính đích thực người Mỹ tại Wall Street? Đó là họ phải hiểu văn hóa thị trường, nền kinh tế của rất nhiều quốc gia nên không có gì lạ khi tôi biết nhiều thứ về VN.
Tại VN người ta hay bị lừa và hay bị nhầm lẫn về cụm từ "chuyên gia tài chính". Thậm chí là có nhiều người giả danh chuyên gia tài chính tại Mỹ hay London để lừa đảo nhau, kể cả lừa luôn cả ngân hàng thương mại tại VN, thâm chí cả người du học bên Mỹ về VN "khoác cái vỏ chuyên gia tài chính" và được bố trí công việc khá chuyên môn cũng là "chuyên gia tài chính". Vì muốn phân tích được thị trường Mỹ bạn phải hiểu thị trường đó, luật pháp, cũng như các đạo luật tài chính,... của họ chứ không dễ dàng gì đâu.
Hãy nhớ rằng, để trở thành một chuyên gia phân tích tài chính bạn đã phải trở thành một nhà phân tích chứng khoán, hay security analysis lâu năm giàu kinh nghiệm, vì hầu hết các tài sản đầu tư tại Mỹ nó đều dính dáng và chuyển qua hình thức tài sản đầu tư chứng khoán.
Cụ thể bạn phải có kinh nghiệm qua Chartered Financial Analyst (CFA), Chartered Market Technician (CMT) giàu kinh nghiệm -- Chuyên viên phân tích tài chính chuyên nghiệp trong tất cả các lĩnh vực như phân tích nền kinh tế, phân tích các thị trường tài chính và chứng khoán, vàng, dầu thô, đầu tư, quản lý phân tích các tài sản rủi ro,... rất nhức đầu khi mới bước vào nghề, còn nếu có kinh nghiệm thì nó quá dễ dàng,....
Tất nhiên, một chuyên gia tài chính, hay sâu rộng hơn là "chuyên gia phân tích tài chính" thì bạn phải phân tích được tất cả các khí cụ đầu tư của các thị trường và nền kinh tế nước đó, chẳng hạn, bạn phải phân tích được nền kinh tế Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật, TQ, Nga, Saudi Arabia, hoặc 28 nước EU,... để tính toán đầu tư. Điều đó bạn phải hiểu được ít nhất tương đối văn hóa nước đó bằng nhiều cách như nghiên cứu hồ sơ của trên các thị trường (không nhất thiết bạn phải tới quốc gia đó,...). Đó là nghề của họ, nên không có gì thắc mắc cả là vì sao tôi hiểu được tương đối văn hóa VN.
Nhiều người giật mình chả hiểu nổi tôi hay phân tích hồ sơ lãi suất âm Thụy Sĩ, hồ sơ nền kinh tế UK, thậm chí là Thổ Nhĩ Kỳ-Nga đấu nhau ai thua ai, cuối cùng Thổ Nhĩ Kỳ có sao đâu, khi người tại VN cho rằng Thổ Nhĩ Kỳ sẽ bị suy thoái kinh tế khi Nga cấm vận Thổ Nhĩ Kỳ,..
Kết luận sau cùng của tôi là nghề nào cũng đáng quý cả, miễn rằng mình làm ra tiền cho bản thân và gia đình cũng như đóng thuế cho đất nước có ngân sách để bảo vệ quốc gia,... chuyên gia tài chính cái gì, cuối cùng cũng về đất ở với "giun" thôi, kiếm ra được đồng tiền thì cũng rất khó khăn vì phải sử dụng bộ não hết công suất, cạnh tranh nhiều đối thủ rất cáo già chứ không sung sướng gì đâu.
Cho nên tôi nhắc lại là tôi chẳng dám khuyên môn đệ học tài chính của tôi, đó là cứ bám lấy cái nghề mà mình được đào tạo và yêu thích nó thì bạn sẽ thành công trong cuộc sống thôi chứ chẳng cần chuyên viên hay chuyên gia tài chính Phố Wall, họ cũng là con người bình thường thôi, nhưng do môi trường sống khác nhau và khắc nghiệt nên họ buộc phải thích nghi để mà tồn tại thôi.

Phương Thơ --  Morgan Stanley (NYSE:MS)
(Nguồn: http://phuongtho-morganstanley-ms.blogspot.com/)

NHỮNG PHÁT NGÔN HÁO DANH CỦA QUAN CHỨC VN TRONG NĂM 2016

Đầu tiên là hai quan chức đầu đàn tại HCMC, và Hà Nội, thì phát biểu rằng cả hai thành phố này sẽ thay thế trung tâm tài chính Singapore Hồng Kông, Thượng Hải trong tương lại. Rồi lãnh đạo chính phủ và ban bộ kinh tế và chuyên gia kinh tế quốc doanh thì thấy rằng tiềm năng Đà Nẵng sẽ vượt Singapore, dù rằng GDP cả cái đất nước VN cộng lại thấp hơn Singapore cả 100 tỷ $.
Chuyện ngu ngốc nữa là người ta còn phát ngôn là đến năm 20xxx thì nền kinh tế VN sẽ chiếm hơn 90% đi từ lĩnh vực dịch vụ.
Quan chức cấp cao điều hành cả hệ thống kinh tế cao nhất nước mà phát biểu ngu dốt như vậy thì làm sao mà đất nước khá lên được. Có ngu thì ngu vừa phải, không biết thì đừng nói ra.
Hãy nhớ rằng, ngay cả nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ từng là cánh chim đầu đàn của thế giới một thời lẫy là hàng thế kỷ là nền kinh tế của Vương quốc Anh, cho đến bay giờ đây nền kinh tế UK này chỉ chiếm 71% đóng góp cho nền kinh tế là đi từ dịch vụ, như kinh doanh tài chính ngân hàng, bảo hiểm, vận chuyển, lưu trú, chăm sóc sức khỏe, kinh doanh giáo dục, và các ngành nghề công nghiệp khác, kể cả kinh doanh bất động sản,...đó là lĩnh vực dịch của UK chiếm khá cao cho đóng góp GDP của họ (đó là vì UK có trung tâm tài chính lâu đời nhất thế giới như London).
Đối với VN làm gì mà nghĩ mình hơn 90% GDP đi từ dịch vụ, khi mà VN là quốc gia chiếm số đông là sinh sống ở vùng nông thôn, nền kinh tế vẫn thuần nông nghiệp,....Thị trường tài chính và giấy nợ (trái phiếu) thì yếu kém, mà thị trường tài chính hay mỉa mai là "hiệu ứng lạm phát trên trái phiếu", hay "inflation effects on bonds", thì mà nghĩ gì GDP sau này của VN đi từ dịch vụ đến hơn 90%.
Để nền kinh tế đi từ lĩnh vực dịch vụ, chắc chắn rằng quốc gia đó phải có đơn vị tiền tệ có giá trị buôn bán quốc tế cao. VN mà muốn đến 90% đi từ dịch vụ thì cao nhất thế giới, và đơn vị tiền tệ VND của VN có lẽ sẽ có giá và xếp trên đồng $, EUR, Yen, Franc Thụy Sĩ, Pound (UK),...
Và nhiều thứ phát biểu của quan chức cấp cao VN, phát biểu phân tích như vậy thì thử hỏi làm sao mà VN không tụt hậu và lạc hậu được.
Ngay cả cái sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất mà chế độ cộng sản VN thừa hưởng của chế độ Sài Gòn để lại (nó không do chế độ cộng sản VN xây dựng), vậy mà chỉ có việc quản lý nó cũng đã không xong thì ta tự hỏi họ làm cái gì được mà hay mơ chuyện trên trời ở đâu không khiến quốc tế nhìn vào xem thường.
Bây giờ ngay cả cái sân bay Tân Sơn Nhất không phải quá tải mà do xuống cấp không chịu đầu tư thì người ta nghĩ ra cách tốn kém sẽ chuyển máy bay quá cảnh đậu tại sân bay Cần Thơ, đúng là hết còn gì để nói về sự sáng tạo vặt, tư duy không suy nghĩ của quan chức VN. Chỉ có chuyện đó mà làm không xong thì đòi GDP đến năm 2xxx nền kinh tế VN chiếm đến 90% là dịch vụ,...
Đã thế trong năm 2016 là năm mà các quan chức cấp cao của VN có những phát ngôn rất ấn tượng, nào là TP.HCM sẽ là một Silicon Valley, Thung lũng Silicon ở phía Bắc California ở Mỹ, rồi sẽ là trung tâm tài chính Thượng Hải, hay Singapore, Hà Nội sẽ mất mươi năm sẽ vượt mặt trung tâm tài chính Hồng Kông, còn Đã Nẵng cũng thế,.... tức là cả cái đất nước VN còn đi vay ODA này sẽ có cả ba trung tâm tài chính lớn nhất Á châu nằm gọn tại VN, và nhiều phát ngôn hình như họ nói ra không có danh dự bảo vệ uy tín lời nói của họ. Thay vì nên lo chuyện vượt mặt Malaysia, Thailand, Đài Loan,... là mừng rồi, có lẽ cả thế kỷ nữa may ra đuổi kịp họ. Thậm chí Lào, Campuchia, hai tiểu quốc này nó đã vượt mặt VN nhiều lĩnh vực thì quan chức VN cứ mơ bay bổng trên thiên đường nào ở đâu không, rất khó hiểu, thay vì nên hành động bằng lời nói một vài phần trăm thôi là khá rồi.
Tổng thống đắc cử Donald Trump mà phát biểu như vậy e rằng người ta buộc phải cho Trump đi kiểm tra sức khỏe y tế để khám xem có mắc bệnh tâm thần hay không mới quyết định chuẩn y cho Trump làm tổng thống.

Phương Thơ --  Morgan Stanley (NYSE:MS)
(Nguồn: http://phuongtho-morganstanley-ms.blogspot.com/)

ĐỌC SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ QUỐC TẾ CUỐI TUẦN

Trước kia tôi cung cấp lại bài viết của Giáo sư Kinh tế học Kevin Hoover, ông là giáo sư giảng dạy tại nhiều trường đại học hàng đầu của Mỹ. Bài viết của Giáo sư Kevin D. Hoover về "Đường cong Phillips". Bạn đọc xem ở đây: www.econlib.org/library/Enc/PhillipsCurve.html, trong những phần tô mầu xanh bạn đọc nhấn vào nó sẽ dẫn đến các chủ đề khác của các giáo sư đại học Mỹ phân tích, chẳng hạn bài viết của Paul Romer - Giáo sư kinh tế tại Đại học Stanford, và nhiều trường đại học tại New York, ông từng còn nắm chức vụ Trưởng ban Kinh tế và Phó Chủ tịch cao cấp của World Bank. Bạn đọc xem ở đây: www.econlib.org/library/Enc/EconomicGrowth.html, các bài viết tương tự khác, bạn đọc nhấn vào những dòng chữ tô màu xanh sẽ có chủ đề khác như economic growth (tăng trưởng kinh tế) của "money supply" (cung tiền),... dưới chủ đề đó sẽ có tất cả các lý thuyết kinh tế học do các giáo sư hàng đầu của Mỹ biên soạn,...
Tôi thì không còn đọc sách nữa mà chỉ đi nghiên cứu các lý thuyết kinh tế để tìm ra lỗ hổng của nó mà đầu tư và phân tích,...Tại VN tôi nêu đích danh ông "giáo sư tiến sĩ rởm" Trần Ngọc Thơ, trưởng khoa Tài Chính doanh nghiệp trường ĐH Kinh tế TP HCM, và nhiều ông bà giáo sư tiến sĩ khác nổi tiếng đạo văn tại đây, nó không qua mắt tôi cả, vì tôi đã đọc qua hết nó khi còn trẻ và còn học bậc đại học xưa kia,...
Trở về chủ đề mà xưa kia tôi hay phân tích là để trở thành giáo sư, tiến sĩ kinh tế chính hiệu tại Mỹ là cực kỳ khó, họ phải có nhiều công trình nghiên cứu công bố trên các tạp chí, đủ các lĩnh vực như tài chính, thống kê, dự báo giá hàng hóa,...và viết hàng trăm, hay hàng ngàn bài báo đăng trên các tờ báo kinh tế, như CNNMoney, Bloomberg, New York Times, Wall Street Journal, Reuters, Economist,...
Như tôi hay nói, chẳng hạn Giáo sư, Tiến sĩ Eugene Fama, ông lấy bằng cử nhân của Đại học Tufts năm 1960, tiếp theo văn bằng MBA, và tiến sĩ từ Đại học Chicago Graduate School of Business (hiện nay là Trường Booth) vào năm 1964, là giáo sư tài chính.
Giáo sư Eugene Fama đã nhận được nhiều giải thưởng lớn trong ngành tài tài chính Mỹ và thế giới. Cụ thể là năm 2005 nhận giải thưởng Ngân hàng Deutsche về Kinh tế tài chính.
Năm 2007 - 2008, Giáo sư Eugene Fama nhận Giải thưởng Hiệp hội Tài chính Morgan Stanley (NYSE: MS). Giáo sư còn nhận nhiều giải thưởng lớn của Bỉ, Pháp,....rồi các giải thưởng các công trình của ông trong lý thuyết danh mục đầu tư và định giá tài sản, kể cả các giải thưởng do Trung tâm giao dịch hàng hóa Chicago trao giải,...Nguồn:www.morganstanley.com/…/eugene-f-fama-awarded-first-morgan-…
Ngoài ra Giáo sư, tiến sĩ Eugene Fama cũng khá chịu chơi, đó là ông cũng là một biên tập viên tư vấn của Tạp chí Kinh tế tài chính, và viết nhiều bài về kinh tế xuất bản báo giấy,....
Trong năm 2013, Giáo sư Eugene F. Fama đoạt giải Nobel trong khoa học kinh tế, được công nhận rộng rãi như là "cha đẻ của ngành tài chính hiện đại". Cùng đoạt giải thưởng này còn có Giáo sư Robert Shiller (thuộc Đại học Yale), và Giáo sư Lars Peter Hansen, thuộc Đại học Chicago, họ nghiên cứu về dự báo giá chứng khoán và các tài sản tài chính, cũng như nghiên cứu cho các công trình tiên phong trong thị trường tài chính đã chuyển đổi quản lý danh mục đầu tư và định giá tài sản và đưa ra các nghiên cứu về cách cảm xúc, cũng như "tâm lý bầy đàn" (herd mentality), tác động đến quyết định tâm lý đầu tư của giới đầu tư,....www.bloomberg.com/…/fama-hansen-shiller-share-nobel-economi…, hoặc:www.chicagobooth.edu/faculty/directory/f/eugene-f-fama
Đấy mới là tiến sĩ chính hiệu của Mỹ, tức là họ hay ưa viết báo, viết trên các tạp chí, để giới nghiên cứu đọc, phân tích và mổ sẻ, và viết nhiều sách về các công trình nghiên cứu của họ, thậm chí còn tham gia quản lý đầu tư vào các danh mục tài sản rủi ro,...
Còn kinh nghiệm tiến sĩ tại VN, rất hiếm những giáo sư tiến sĩ nào dám viết bài đăng trên tạp chí báo chí, vì dễ bị lộ tẩy học giả bằng thật, hoặc trong đầu chả có gì cả. Thí dụ như vì sao các nước họ có thị trường giao dịch tài chính rất cởi mở, nhưng họ vẫn cố giữ tỷ giá hối đoái cố định như là Đan Mạch, Thụy Sĩ, Hong Kong, Singapore, Saudi Arabia,... thay vì thả nổi đồng tiền của họ.
Hay trước đây chỉ trong ba hôm từ ngày 11, 12 và 13/8/2015, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) phá giá đồng bạc Yuan (RMB) tới 4,6%, nó tác động rất tiêu cực đến nền kinh tế và thị trường tài chính, chứng khoán VN, nhưng giới phân tích quốc tế rất ngạc nhiên là hầu như tại VN có một đội ngũ giáo sư tiến sĩ kinh tế rất đông đảo, "học thuật uyên bác", nhưng họ im thít và chỉ chăm chỉ dạy học, và lẩn tránh trách nhiệm, có nhiều SV theo học kinh tế hỏi thì mấy vị giáo sư tiến sĩ này trả lời "đó là thị trường, mai đọc báo Mỹ họ phân tích đừng nên thắc mắc". Đó là bài phân tích lại xưa kia tôi mỉa mai mấy ông giáo sư tiến sĩ VN.

Phương Thơ --  Morgan Stanley (NYSE:MS)
(Nguồn: http://phuongtho-morganstanley-ms.blogspot.com/)
Phillips conjectured that the lower the unemployment rate, the tighter the labor market and, therefore, the faster firms must raise wages to attract scarce labor. At higher…
ECONLIB.ORG

PHÂN TÍCH NỢ CÔNG ĐỐI VỚI MỘT QUỐC GIA (NGUỒN THAM KHẢO: IMF, WB, CIA, ADB, VÀ MORGAN STANLEY)

Bài viết này nó tuân thủ theo quy tắc của thị trường vay nợ, nên tôi không thể thay đổi ý nghĩa của nó, và nó cũng được phổ biến rộng rãi trên các thị trường và báo chí, tôi chỉ trích dẫn tóm lược và bổ sung theo hướng dễ hiểu nhất cho bạn đọc yêu cầu.
Mới đây sổ nợ công đưa ra nó cho thấy rằng mỗi người dân VN phải gánh nợ đi từ chính thức là trên 23 triệu VND. Con số khác có lẽ cao gấp đôi con số chính thức,....Thật bất hạnh nhà nào có gia đình 10 người thì gánh nợ 230 triệu VND,....
Chúng tôi phân tích cho độc giả mới, để yêu cầu hiểu rõ hơn về nợ công, tất nhiên tôi không đi vào phân tích nợ công riêng biệt cho quốc gia VN, vì quốc gia này cái gì cũng "bí mật quốc gia". Nên chuyên gia phân tích kinh tế của các ngân hàng nổi tiếng thế giới họ không thèm quan tâm và bỏ qua quốc gia này, đó là thiệt thòi cho VN.
Có lẽ tại VN vẫn còn nhiều người giật mình và phẫn nộ vì thành tích vay mượn và xây dựng hạ tầng đắt đỏ và lãng phí nhất thế giới. Đầu tư cũng lãng phí nhất thế giới, vì nạn tham nhũng, Thậm chí là ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng còn nói: "Chống tham nhũng khó vì ta tự đánh ta". Đúng hết ai dám bình luận phát biểu như vậy !
Tôi chỉ trích dẫn bài viết của nhiều nguồn do Ms. Carleton tổng hợp và phân tích ngắn gọn:
Nợ công nó thường chỉ đề cập đến nợ quốc gia, nhưng tại một số quốc gia khác nó cũng bao gồm cả định nghĩa là các khoản nợ của quốc gia, tỉnh thành phố, trung ương và địa phương. Vì vậy, hãy cẩn thận khi so sánh nợ công giữa các quốc gia để đảm bảo rằng những khoản nợ công đó là chính xác. Bất kể những gì được gọi là nợ công đó là sự tích lũy hàng năm của sự "thâm hụt ngân sách" (budget deficits). Đó là kết quả của nhiều năm chính phủ của những quốc gia đó chi tiêu nhiều hơn từ nguồn thu từ thuế (VN thì đội sổ việc này). Nguồn WB, IMF và các phân tích của các ngân hàng đầu tư Mỹ.
Hầu hết, các nhà đầu tư thường đánh giá mức độ rủi ro bằng cách so sánh nợ với tổng sản lượng kinh tế của một quốc gia, nó được gọi là tổng sản phẩm quốc nội, hay GDP. Một tỷ lệ nợ so với GDP nó được đưa ra để cho thấy dấu hiệu là làm cách nào mà quốc gia mắc nợ đó có thể trả hết được nợ nần của họ. Các nhà đầu tư thường không không quan tâm đến khi tỷ lệ nợ so với GDP đạt đến một mức độ giới hạn quan trọng là sắp vượt trần nợ công. Đó thường là 90% đối với các nước phát triển như Âu châu, Mỹ, Nhật Bản, và 70% đối với các nước thị trường mới nổi "BRICS" gồm: Brasil, Nga (Russia), Ấn Độ (India), Trung Quốc (China) và Nam Phi (South Africa)..., Việt Nam định nghĩa "trần nợ công" (debt ceiling) là dưới 65%.
Đối với VN, bất kể khi nào nợ công tiến sát đến 70% thì nó sẽ đánh sụt GDP của VN ít nhất 1,5% hoạc 2% cũng có. Lý do khi mắc nợ quá cao thì tiền làm ra của nền kinh tế chỉ dành cho hướng trả lãi lẫn trả nợ, nên đầu tư ít đi thì tất nhiên GDP nó sẽ sụt giảm là không có gì lạ cả. Cho nên về dài nền kinh tế VN sẽ gặp bất ổn nếu để nợ công tăng quá cao nên nếu không giảm nợ xuống thì đừng mơ con số tăng trưởng GDP mấp mé 6,85% hay 7%, đó là ảo giác mà các nhà phân tích tại VN bỏ thiếu sót đoạn phân tích này, vì trước ấy các ngân hàng đầu tư Mỹ, kể cả IMF, WB,... họ cũng đã phân tích rồi.
Tuy nhiên, một tỷ lệ nợ công cao so với GDP không hẳn là xấu, miễn là nền kinh tế của đất nước đang phát triển có tỷ lệ tăng trưởng tốt, vì nó là một cách để sử dụng đòn bẩy để thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn, nếu như sử dụng đúng mục đích của nợ công để đầu tư hiệu quả, tránh tham nhũng, cũng như bộ máy công quyền quan liêu. Các nước có thể gặp vấn đề với tỷ lệ nợ so với GDP bằng nhiều cách, như thâm hụt ngân sách, hay "chi tiêu ngân sách nhà nước" (budget spending) lãng phí...
Các nhà phân tích kinh tế tài chính và giới đầu tư thường không xác định một tỷ lệ cụ thể nợ so với GDP như là lý tưởng để đánh giá nợ công, và thay vào đó họ tập trung vào tính bền vững của mức nợ nhất định. Nếu một quốc gia có thể tiếp tục trả lãi cho khoản nợ của mình mà không cần tái cấp vốn hoặc làm tổn hại đến tăng trưởng kinh tế, nó thường được coi là ổn định. Tuy nhiên, nếu một tỷ lệ nợ cao trên GDP có thể làm cho quốc gia đó khó khăn hơn để trả nợ nước ngoài, và có thể dẫn các chủ nợ để tìm kiếm lãi suất cao hơn khi cho vay để phòng ngừa rủi ro quốc gia đó mất khả năng thanh toán. Các nhà đầu tư tăng lãi suất lên, tất cả các khoản vay nợ nó sẽ trở nên đắt đỏ hơn đối với một quốc gia muốn cần tiền để tái tài trợ nợ hiện tại của họ. Điều đó có nghĩa là, thu nhập quốc gia đó buộc phải cao hơn (phải tăng đầu tư), nhưng phải canh chừng đi về hướng trả nợ, ít đầu tư, khiến quốc gia đó thắt chặt chi tiêu và thường đưa đến tăng trưởng thấp và hay dẫn đến chỗ phá sản (rơi vào vòng xoáy luẩn quẩn nợ nần).
Hãy thận trọng, nếu một quốc gia không thể trả nợ đúng hạn, hoặc trì hoãn trả nợ, như trường hợp của Argentina bị hai quỹ đầu cơ của NML Capital và Aurelius Management của Mỹ đòi nợ các tờ giấy nợ mà họ mua trôi nổi trên thị trường do các chủ nợ bán lại, khi Buenos Aires trì hoãn trả nợ một ngân khoản 1,5 tỷ USD cả vốn lẫn lãi cho hai quỹ đầu cơ Mỹ này, và có thể gây ra hoảng loạn trong thị trường trong nước và quốc tế. Điều này dẫn đến TTCK Argentina sut giá 8% trong phiên giao dịch hôm đó, và sụt tiếp 15% cho các phiên giao dịch tiếp theo, đồng Peso sụt đến 20% chỉ trong hai hôm. Tồi tệ nhất, khi nợ cao hơn tỷ lệ so với GDP, đó là khả năng những nước này ít có thể đáp ứng nghĩa vụ sẽ trả nợ của mình, và dẫn đến rủi ro vỡ nợ.
Thực tế trường hợp của Argentina, đó là trường vỡ nợ kỹ thuật, tức là "họ chỉ mất khả năng thanh toán, chứ chưa mất hết khả năng trả nợ". Đó là vì họ vẫn có khả năng trả nợ mà họ chủ yếu không thể trả nợ đúng hạn khi trái phiếu đáo hạn, hoặc trì hoãn trả nợ để thương lượng lại lãi suất vay "cắt cổ" của một số nhà đầu tư và thị trường cho vay. Đối với trường hợp bị phá sản tan tành, tức là vỡ nợ hoàn toàn, đó là khi quốc gia đó không có khả năng trả nợ nữa, từ ngắn hạn đến dài hạn có nghĩa là phải xù nợ, hay quỵt nợ luôn, và chấp nhận bị đuổi khỏi thị trường tài chính quốc tế, tức là quốc gia đó hay kể cả doanh nghiệp nước đó không còn khả năng tiếp cận được vốn vay từ nước ngoài nữa.
Để khắc phục rủi ro của tỷ lệ nợ công tăng cao trên GDP. Cụ thể, cắt giảm chi tiêu chính phủ (cut government spending); khuyến khích tăng trưởng (encourage growth). Chẳng hạn, hệ thống ngân hàng trung ương (Việt Nam gọi là Ngân hàng Nhà nước) có thể khuyến khích tăng trưởng bằng cách cắt giảm lãi suất, trong đó, trên lý thuyết có thể dẫn đến cho vay thương mại dễ dàng hơn. Nhưng rất tốn kém và khó thi hành được. Vì khi mắc nợ cao, phí tổn lãi suất dài hạn (lãi suất trái phiếu thường rất cao, nên khó mà hạ được lãi suất vay thương mại). Nếu VN có hạ lãi suất vay thương mại xuống thấp thì đó là lãi suất tài trợ bằng ngân sách (tức là tiền thuế của người dân) mà ra.
Đối vơi Việt Nam, khi chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và dự toán cho ngân sách nhà nước năm 2015 vừa được Quốc hội thông qua, dự kiến nợ công đến cuối năm 2015 sẽ ở mức 2.869.000 tỷ VND, bằng 64% GDP (về lý thuyết, nếu tỷ giá VND/USD không biến động và duy trì ổn định), là vẫn trong giới hạn Quốc hội cho phép (nợ công không quá 65% GDP), là thấp hơn mức độ nguy hiểm là 77%, theo đinh nghĩa của Ngân hàng Thế giới WB đối với các nước đang phát triển, thì tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phải cao hơn trước để làm tăng GDP, và làm giảm tỷ lệ phần trăm tổng nợ trên GDP; hoặc tăng thu nhập thuế (increase tax income), nhưng qua năm 2016 thì tỷ lệ nợ công của VN đã vượt quá mức cho phép. Tuy nhiên bất kể sự rủi ro nào về tăng trưởng GDP sụt giảm của VN đều có thể gây ra hoảng loạn cho thị trường vay nợ (nó cũng giải thích phần nào VN nghiện tốc độ tăng GDP cao, dù giả tạo).
Biên pháp tệ hại để có thêm tiền trang trải nợ nần thì, chính phủ các nước có thể tăng thuế như một cách để trả hết nợ. Nhưng thủ thuật của biện pháp này là tăng thuế sẽ bất lợi cho doanh nghiệp, và của người dân khiến doanh nghiệp và người dân kinh doanh không có lời vì thuế má quá cao thì họ đóng cửa nhà máy không sản xuất nữa thì nhà nước mất nguồn thu, thì lấy đâu ra tiền trả nợ, hoặc nhà nước phải tiếp tục đi vay nợ, nếu không trả được nợ thì in tiền tạo lạm phát, bắt tất cả người dân phải trả nợ bằng tiền mất giá, mà tiền mất giá bao nhiêu thì nhà nước đang lấy bấy nhiêu tiền của người dân ra trả nợ,...
Hiện nay, một số nhà kinh tế Việt Nam hay so sánh nợ công của Việt Nam so với Mỹ, Nhât Bản, là một trong những quốc gia có tỷ lệ nơ công cao nhất thế giới, trong đó Nhật Bản đội sổ với tỷ lệ nợ công thực tế tính cho năm 2015 là gần 229%, Mỹ xếp thứ 6 với tỷ lệ nợ công là 104%, tức là xếp sau Hy Lạp, Italy, Bồ Đào Nha, Singapore để đưa ra khuyến dụ là tỷ lệ nợ công của Việt Nam không thấm vào đâu so với những nước kể trên nên không đáng ngại để tiếp tục vay tiền tài trợ các dự án phát triển kinh tế mà chưa thẩm định rủi ro. Đó là cách so sánh khập khiễng cực kỳ nguy hiểm.
Bởi vì, cần hiểu rằng, các tỷ lệ nợ trên GDP của Mỹ, và Nhật là ít rủi ro và nó không quan trọng đối với một đất nước mà đồng tiền được dân chúng trong nước, hay giới đầu tư nước ngoài tin dùng, Mỹ và Nhật hay một số nước khác, họ có thể phát hành nợ bằng đồng tiền riêng của họ để trả nợ. Chẳng hạn Mỹ, Nhật chỉ có thể chỉ cần "in thêm tiền" (print more money) để trả nợ, dù có thể làm đồng tiền mất giá, nhưng họ chỉ nợ bằng đó tiền của họ. Ví dụ Mỹ nợ nước ngoài 7.000 tỷ $ (niêm yết bằng đồng tiền Mỹ là đồng USD, $). Điều đó có nghĩa là nếu tiền Mỹ mất giá tan tành 50% chẳng hạn thì Mỹ họ vẫn chỉ trả 7.000 tỷ $ đó mà thôi.
Chính vì lý do này, nguy cơ vỡ nợ công của Mỹ, Nhật là rất thấp, dù các món nợ công của Mỹ, Nhật ngày càng phình ra. Mẫu chốt quan trọng ở đây là nhiều đồng bạc các quốc gia có nền kinh tế lớn của thế giới lại neo giá vào đồng USD. Cụ thể, Trung Quốc và Nhật Bản, và nhiều nước khác, họ duy trì nắm giữ tài sản lớn trái phiếu kho bạc Mỹ để giữ cho tỷ giá đồng bạc của họ thấp so với đồng USD để mặt hàng xuất khẩu của họ rẻ, dễ cạnh tranh. Họ giữ tỷ giá bằng cách mua trái phiếu kho bạc Mỹ (buying US treasuries), để làm hạn chế nguồn cung đồng USD, nên khả năng Mỹ vỡ nợ công là rất khó xẩy ra. Điều này cũng khiến cho năng suất trái phiếu của Mỹ luôn ở mức thấp, tức là Mỹ đi vay và trả tiền lời thấp mà cũng không bị lạm phát cao, vì nhiều nước trên thế giới neo tỷ giá của họ vào đồng USD bằng cách mua trái phiếu kho bạc Mỹ như đã nói ở trên.
Đối với Nhật Bản nợ của tỷ lệ GDP đến năm 2015 là 229%, vì biện pháp tăng chi ngân sách, Nhật Bản hiện mắc nợ chính thức nhiều nhất thế giới so với GDP, và đã được tích lũy trong nhiều thập niên. Nhật Bản không phải là nguy cơ vỡ nợ cao, bởi vì hầu hết các khoản nợ của chính phủ Nhật Bản được tài trợ bởi công dân của họ nên không bị áp lực tăng lãi suất. Lý do, đa số các khoản nợ của Nhật là "nội trái", được yết giá bằng đồng yên (JPY), nên chủ nợ và con nợ đều là người nhà với nhau, tức là BoJ, hay công chúng Nhật là một và cũng là nhà in giấy bạc là đồng JPY, và nhờ vậy BoJ có quyền quyết định về lợi suất trái phiếu cao thấp khi họ in tiền bơm vào nền kinh tế chứ không phải các chủ nợ nước ngoài quyết định về lợi suất trái phiếu (lãi suất dài hạn) do BoJ phát hành giấy nợ.
Khác với những các quốc gia khác, các khoản nợ công của thế giới hầu như được yết giá bằng "trái phiếu ngoại tệ", đó là đi vay bằng đồng USD, EUR, JPY,.... Kết quả là, các ngân hàng, và các quốc gia vay nợ cũng như các thị trường tài chính nước ngoài đòi hỏi rất nhiều đồng USD, EUR, JPY,... để tiến hành vay nợ và trả nợ hay trao đổi bán buôn trong kinh doanh cũng như việc thanh toán nợ nần của ho như đã nói,...
Đối với nợ công của những quốc gia khác, dù tỷ lệ nợ thấp, nhưng lại rất dễ vỡ nợ. Lý do các khoản nợ đó nếu đi vay từ các chủ nợ nước ngoài, và vay bằng đồng tiền mạnh như đồng USD, EUR, JPY,... mà tôi đã đề cập ở trên. Điều đó có nghĩa là nhà đầu tư họ sẽ không bao giờ nhượng bộ tha thứ khi nói đến việc trì hoãn thanh toán nợ của quốc gia đó. Và dẫn đến lạm phát nợ của quốc gia đó là bằng đồng USD, EUR, JPY,... chứ không phải là đồng nội tệ những quốc gia vay tiền, có nghĩa là làm "phá giá đồng tiền" (currency devaluations) của quốc gia đó sẽ gia tăng có thể nhanh chóng dẫn đến mức độ nợ cao hơn mà Việt Nam cần chú ý (nếu đơn vị tiền tệ VND sụt giá bao nhiêu phần trăm thì hóa đơn nợ nần tăng bấy nhiêu khi tính ra nợ đơn vị tiền tệ VND),....
Hãy thận trọng, gặp những trường hợp nợ công quá cao, các chính quyền mắc nợ thường phải đi về hướng trả nợ, nên ít dám đầu tư thêm, khiến quốc gia đó phải thắt chặt chi tiêu, như là "các biện pháp thắt lưng buộc bụng" (austerity measures), và thường đưa đến tăng trưởng thấp, hay dẫn đến chỗ phá sản, mất khả năng thanh toán. Điều đó có nghĩa là, thu nhập quốc gia đó giảm, làm tăng trưởng kinh tế thấp vì ám ảnh nợ nần quá lớn nên không dám tăng chi để kích thích sản xuất. Dẫn đến hậu quả suy thoái kinh tế là rất dễ xẩy ra.
Cho nên, khi nói về nợ công phải nên hết sức thận trọng, tránh mập mờ với thị trường tài chính, bởi vì các khoản nợ công đã nằm trên sổ sách các tổ chức đánh giá tín dụng như Standard & Poor’s, Moody's, Fitch Ratings rồi, hoặc các mức lãi suất vay dài hạn mà các chủ nợ, hay các ngân hàng quốc tế họ cho vay, và lợi suất trái phiếu, hay năng suất trái phiếu quốc trái kỳ hạn 10 năm, phải trả lãi bao nhiêu là giới đầu tư là họ biết quốc gia đó có khoản nợ công rủi ro ở mức nào chứ không cần vào tận quốc gia đó để thẩm định rủi ro cho vay mà Việt Nam cần rút kinh nghiệm bài học về trường hợp của Hy Lạp, khi quốc gia này khai man sổ sách về nợ công khi đáo hạn thì mất khả năng thanh toán và không thể thu hút dòng vốn của tư nhân mà chỉ trông cậy vào sự cấp cứu của IMF, ECB, Ngân hàng trung ương Đức (Bundesbank) cũng không thể cứu được Hy Lạp ra khỏi bài toán nợ công này.
(*) Bài phân tích của Ms. Carleton tổng hợp nhiều nguồn, cô là chuyên viên phân tích quản lý danh mục đầu tư cho khách hàng. Cô từng là biên tập viên tài chính và chứng khoán cho tờ CNBC.com. Ms. Carleton tốt nghiệp văn bằng cử nhân Kinh tế của Đại học George Washington. Ngoài ra Carleton còn là một chuyên viên tư vấn về thuế.

Phương Thơ --  Morgan Stanley (NYSE:MS)
(Nguồn: http://phuongtho-morganstanley-ms.blogspot.com/)

KHI CÂY ĐẠI THỤ NHÀ KINH TẾ HỌC PAUL KRUGMAN (GIẢI NOBELKINH TẾ 2008) DỰ BÁO SAI VỀ NỀN KINH TẾ MỸ SẼ ĐI VÀO VẾT XE ĐỔ THẬP KỶ ĐÁNH MẤT NHƯ NỀN KINH TẾ NHẬT XƯA KIA

Trong cơn bão tài chính và khủng hoảng kinh tế Mỹ năm 2008-2009, nhiều nhà kinh tế học theo trường phái kinh tế học Keynes, trong đó dẫn đầu là Paul Krugman mỉa mai bi quan khi cho rằng nền kinh tế Mỹ đã hết đường tăng trưởng và đi theo "thập kỷ đánh mất" của Nhật khi họ cho rằng nợ thu nhập của các hộ gia đình so với GDP tại Mỹ đã quá lớn dẫn đến triệt tiêu lực cầu tiêu dùng tư nhân.
Tuyên bố của Paul Krugman và nhiều nhà kinh tế học hệ phái Keynes góp thêm củi lửa gây hoảng loạn cho giới đầu tư, khi họ hốt hoảng bán đi nhiều tài sản Mỹ như trái phiếu, cổ phiếu,... đẩy thị trường thị trường chứng khoán Mỹ sụt giá tan tành, sản lượng trái phiếu Mỹ vọt lên trời, giá trái phiếu cắm đầu xuống đất. Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích đầu tư cáo già Wall Street đã chỉ ra lỗ hổng tai hại của Paul Krugman là thiếu kinh nghiệm trong đầu tư nhưng thừa lý thuyết kinh tế cao siêu khó hiểu. Các tay đầu tư Phố Wall đã tự tin và thành công khi đầu tư vào cổ phiếu và đến bây giờ Dow Jones gần như có lúc vọt lên 20.000,00 điểm, khiến người ta tìm kiếm lại lý giải của Paul Krugman. Nhiều nhà đầu tư tức giận khi bây giờ tiếc hùi hụi là họ đã tẩu tán tài sản đầu tư sang Âu châu và bị lỗ nặng vì nhiều đơn vị tiền tệ của Âu châu sụt giá, chứng khoán cũng giảm giá, đầu tư vào trái phiếu thì gặp lãi suất âm tiêu cực,....
Về hồ sơ kinh tế học kinh điển, khi quốc gia đó khó bị vỡ nợ công do đồng tiền có giá thì ta đi đánh giá các khoản nợ khác để phân tích rủi ro khi bỏ tiền đầu tư kiếm lời. Đó là trong kinh tế học người ta còn tìm kiếm để đánh giá mức độ nợ của khu vực tư nhân so với GDP là bao nhiêu, và gói vào đó là nợ của các hộ gia đình so với GDP cao hay thấp để phân tích rủi ro tiềm ẩn về thị trường tiêu dùng của người dân có khả năng chống đỡ được sự suy yếu bên ngoài như là thị trường xuất khẩu bị co cụm gặp khó khăn do một số nước lãnh đoàn suy thoái kinh tế họ ít nhập hàng, hoặc một đợt suy thoái kinh tế để tính toán từng chi tiết để làm sao nền kinh chống đỡ được đợt suy thoái mà hạn chế tối đa việc làm giảm giá tài sản của dân chúng bị suy giảm.
Ở Anh quốc từng lãnh đòn khủng hoảng kinh tế năm 2009-2010, đó là khi khu vực nợ của các hộ gia đình tại Anh tăng đến gần 100%, tức là viết chính xác là 99,50% so với GDP trong hết quý thứ 3 của năm 2009. Tại Mỹ thì tỷ lệ nợ này được tích lũy tăng lên mức cao nhất là 95,5% so với GDP trong quý thứ 4 của năm 2007, và sau ấy gây ra khủng hoảng kinh tế.
Đó là bởi vì hầu hết các nước này tỷ lệ chi tiêu cho tiêu dùng nội địa trong nước chiếm khá lớn cho tăng trưởng kinh tế. Khi nợ này tăng cao khiến người dân họ tiết kiệm chi tiêu ít mua sắm hay đầu tư dẫn đến nhiều doanh nghiệp phá sản, ngân hàng mất nợ và vỡ nợ.
Về lý thuyết, Paul Krugman - Giáo sư kinh tế quốc tế tại các trường đại học hàng đầu của Mỹ, cũng là nhà kinh tế học đoạt Giải thưởng Nobel trong khoa học kinh tế năm 2008. Ông Paul Krugman trước đây lý giải sai lầm là khi cho rằng kinh tế Mỹ sẽ trôi vào "một thập kỷ bị đánh mất", giống như kinh tế Nhật Bản trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước bởi khu vực nợ của các hộ gia đình tại Mỹ tăng nhanh quá cao như Nhật trước đây.
Thực tế, các lý thuyết kinh tế học nó chỉ là môn học tương đối trong dự báo phân tích kinh tế, và khác biệt rất lớn về chính trị của mỗi quốc gia cũng như dân số. Paul Krugman sai lầm là bỏ sót yếu tố "dân số mới tham gia lao động". Khi tỷ lệ nợ trên thu nhập của các hộ gia đình ở Mỹ, và Nhật là khác biệt dẫn đến lý thuyết kinh tế đó sai lầm.
Lý do dân số Nhật thì bị lão hóa, già đi, lực lượng tham gia lao động ngày càng ít đi vì nghỉ hưu. Khi mắc nợ như vậy tất nhiên họ chỉ lo đến việc để giành/dành hay tiết kiệm, hay trả lãi, trả nợ vay ngân hàng khi mua tài sản như bất động sản hay cổ phiếu bị bóng tại Nhật xưa kia chẳng hạn. Điều đó không có gì sai cả, vì người ta lo trả nợ nên không chi tiêu, khiến nó lây nan/lan qua lĩnh vực tiêu dùng khác, làm cho thị trường tiêu dùng yếu trong nước yếu đi dẫn đến lực cầu tiêu dùng tư nhân sút giảm khi thị trường xuất khẩu đột ngột yếu đi thì khủng hoảng kinh tế xẩy ra là tất nhiên,....
Đối với Mỹ, do dân số đông, lực lượng mới tham gia lao động nhiều, và tiêu dùng nội địa cao hơn xuất khẩu. Đồng tiền Mỹ là đồng $ có sự chi phối toàn cầu lớn gấp nhiều lần đồng JPY của Nhật. Khủng hoảng kinh tế Nhật trước đây xuất khẩu rất mạnh, là kinh tế Nhật hay đạt số dư tài khoản hiện tại của họ như một phần trăm của GDP (nôm na nó như một thước đo đánh giá mức độ cạnh tranh quốc tế của một quốc gia đó). Khi đạt thặng dư tài khoản nhiều thì nó cho thấy nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nguồn thu từ xuất khẩu, với xếp hạng tiết kiệm cao nhưng nhu cầu tiêu dùng trong nước yếu của người dân. Nó cũng giải thích phần nào Nhật có khối dự trữ ngoại hối nhiều nhất thế giới xưa kia nhờ bán hàng và xuất khẩu lớn, và hiện nay xếp thứ hai trên thế giới sau TQ, và đầu về sở hữu tài sản Mỹ như hình thức nắm giữ trái phiếu kho bạc Mỹ,...
Đối với Mỹ, khủng hoảng nợ khu vực tư nhân, chẳng hạn nợ thu nhập của các hộ gia đinh trên GDP khác với Nhật năm xưa, đó là thời đó Nhật duy trì lãi suất siêu thấp, còn Mỹ gặp khủng hoảng nợ nần kiểu này thì lãi suất của Mỹ là ở mức cao. Cụ thể tính từ thời tháng 2/1999 thì ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) đã duy trì lãi suất 0%, và họ hết đường hạ lãi suất nữa và cứ để kinh tế trôi đâu thì trôi cho đến khi Nhật phát minh ra khí cụ đầu tư nới lỏng định lượng (Quantitative Easing - QE),... Trong khi Mỹ thì khủng hoảng nợ nần của họ khi lãi đó lãi suất Federal Funds Rate vào cuối năm 2007 là 4,25%, và tháng 1 năm 2008 là 3,50%, và cứ thế FED cắt hạ lãi suất tới mức 0,25% vào tháng 12/2008, tức là FED 7 lần cắn hạ lãi suất Federal Funds Rate thì người ta vẫn có lực cầu chi tiêu và tăng đầu tư, dù nợ cao thì họ vẫn nghĩ đến việc tìm kiếm việc làm hay mở rộng sản xuất để trả nợ, nên Mỹ hoàn toàn khác với nợ của Nhật.
Chuyện thứ nữa là Mỹ là quốc gia đã quen bị âm thâm hụt tài khoản vãng lai, nôm na là Mỹ có mức nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, nó gợi ý xem như một tỷ lệ tiết kiệm thấp của Mỹ thấp, và tỷ lệ tiêu dùng cá nhân cao và mức tiêu thụ nội địa mạnh. Khi Mỹ hạ lãi suất, tiền Mỹ mất giá thì Mỹ có khí cụ đầu tư là tăng xuất khẩu ra ngoài vì hàng Mỹ rẻ dễ cạnh tranh, dân Mỹ thì sợ đồng $ mất giá thì lo tranh thủ tăng mua sắm và tăng đầu tư, kể cả mua cổ phiếu thúc đẩy công ty mở rộng kinh doanh, họ không cất tiền trong nhà kỹ như dân Nhật, nên vì chi tiêu, tăng đầu tư mạnh của tư nhân khiến cho nền kinh tế Mỹ phục hồi nhanh chóng,...
Đó là lỗ hổng tai hại mà nhiều nhà kinh học theo trường phái kinh tế học Keynes, trong đó dẫn đầu là Paul Krugman thiếu sót.
Trang blogs của Paul Krugman được nhiều người xem, bạn đọc xem ở đây: krugman.blogs.nytimes.com/
Lý thuyết kinh tế của Keynes, nguồn IMF:www.imf.org/external/pubs/ft/fandd/2014/09/basics.htm
Phương Thơ --  Morgan Stanley (NYSE:MS)
(Nguồn: http://phuongtho-morganstanley-ms.blogspot.com/)
The Nobel Prize-winning Op-Ed columnist Paul Krugman comments on economics and politics.
KRUGMAN.BLOGS.NYTIMES.COM